WHO: Đặc điểm lâm sàng của các ca bệnh nặng trong cúm đại dịch

WHO: Đặc điểm lâm sàng của các ca bệnh nặng trong cúm đại dịch

Clinical features of severe cases of pandemic influenza, WHO

Người dịch: Nguyễn Thị Thu Trang.

Nhằm tập hợp các thông tin về đặc điểm bệnh lý và quản lý đại dịch cúm, Tổ chức Sức khỏe Thế giới (WHO) đã tổ chức một cuộc hội nghị trong 3 ngày tại cơ quan đầu não của Tổ chức Sức khỏe Xuyên châu Mỹ (Pan American Health Organization) tại Washington DC từ ngày 14 đến 16 tháng 10. Các phát hiện và kinh nghiệm được trình bày bởi khoảng 100 các nhà bệnh học lâm sàng và các chuyên gia sức khỏe cộng đồng đến từ các châu Mỹ, Âu, Á, Phi, Trung đông và châu Đại dương.

Cuộc họp đã khẳng định rằng phần lớn và chiếm ưu thế hơn trong số các bệnh nhân đã bị nhiễm cúm H1N1 vẫn chỉ là trải qua một số chứng bệnh như cúm thông thường, với khả năng phục hồi trong vòng 1 tuần, ngay cả khi không can thiệp bằng y khoa.

Nhu cầu chăm sóc chuyên khoa

Tuy nhiên, mối quan tâm hiện giờ là tập trung vào việc quản lý và điều trị y khoa cho các nhóm nhỏ bệnh nhân đang gia tăng các triệu chứng viêm phổi cấp. Trong số các bệnh nhân này, viêm phổi cấp thường liên quan đến một bệnh nào đó của cơ thể hay làm nặng hơn chứng hen suyễn tiềm tàng hoặc bệnh tắc nghẽn đường hô hấp mãn tính.

Điều trị cho các bệnh nhân này thường rất khó và đòi hỏi cấp thiết phải có các phòng cấp cứu và chăm sóc đặc biệt sẽ khiến vấn đề chăm sóc bệnh nhân trong đại dịch trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.

Đầu tiên, viêm phổi do virus là phát hiện thường gặp nhất trong số các ca nghiêm trọng gây ra tử vong. Kế đó là nhiễm khuẩn chiếm khoảng 30% các ca chết người. Bệnh tắc nghẽn hô hấp và sốc do nhiễm trùng là những nguyên nhân gây ra tử vong nhiều nhất.

Các bài thuyết trình trong hội nghị đã khảo sát bệnh lý học của các ca nghiêm trọng một cách chi tiết, với các phát hiện được hỗ trợ bằng thực nghiệm trên động vật. Các phát hiện này đã khẳng định khả năng virus H1N1 có thể trực tiếp gây ra bệnh viêm phổi cấp.

Những khác biệt bệnh lý so với cúm mùa

Các thành viên từng tham gia quản lý các ca bệnh nói trên đã thống nhất rằng các dấu hiệu bệnh lý trong các trường hợp nặng có những dấu hiệu khác biệt đáng chú ý cần phải được xem xét trong bối cảnh dịch cúm mùa. Đối với những bệnh nhân có một bệnh tiềm tàng nào đó, bao gồm phụ nữ có thai, được cho rằng gặp nguy cơ gia tăng, nhiều ca nặng xảy ra cả ở thanh thiếu niên. Trong số những bệnh nhân này, yếu tố cơ địa làm gia tăng các nguy cơ bệnh nặng hiện thời vẫn chưa được làm rõ, tuy vậy các nghiên cứu vẫn đang được thực hiện tiếp.

Trong các trường hợp nặng, bệnh nhân thường bắt đầu trở bệnh nặng khoảng từ 3 đến 5 ngày sau khi các triệu chứng bắt đầu. Bệnh trở nặng nhanh, với nhiều bệnh nhân, quá trình tắc nghẽn hô hấp xảy ra trong vòng 24 giờ, đòi hỏi ngay lập tức phải đưa vào phòng chăm sóc đặc biệt. Trong khi đưa vào phòng đặc biệt, hầu hết người bệnh cần hỗ trợ đường thở bằng máy thở. tuy nhiên, một vài bệnh nhân không đáp ứng tốt với việc hỗ trợ thở thì cần có những biện pháp điều trị phức tạp hơn.

Một cách tích cực, các phát hiện được trình bày trong suốt cuộc hội thảo đã cung cấp những bằng chứng sống động cho thấy rằng việc điều trị nhanh với thuốc kháng virus như oseltamivir hay zanamivir, làm giảm tính nghiêm trọng của bệnh và gia tăng cơ hội sống sót. Các kết quả này càng củng cố thêm các khuyến cáo của WHO trước đo rằng nên cho bệnh nhân điều trị sớ với thuốc kháng virus đối với các bệnh nhân thỏa điều kiện điều trị, ngay cả khi chưa có kết quả xét nghiệm khẳng định dương tính.

Thêm vào việc bệnh viêm phổi gây ra bởi sự nhân mật số của virus, bằng chứng đã chỉ ra rằng bệnh viêm phổi còn bị gây ra bởi sự nhiễm khuẩn đồng thời các loại khuẩn làm gia tăng tiến trình bệnh. Các vi khuẩn thường gặp là Streptococcus pneumoniae và Staphylococcus aureus, bao gồm các dòng kháng methicillin trong một số ca. Vì việc nhiễm khuẩn đồng thời trở nên nhiều hơn so với nhận định ban đầu, các thầy thuốc lâm sàng đã nhấn mạnh rằng cần xem xét các biện pháp chữa trị sớm bằng thuốc chữa vi khuẩn theo kinh nghiệm trong cồng đồng có khả năng bị viêm phổi.

Các nhóm nguy cơ cao

Các thành viên tham gia thống nhất rằng nguy cơ gây tử vong cao nhất hiện tại là 3 nhóm: phụ nữ mang thai, đặc biệt trong quý thứ 3 của thai kỳ, trẻ em nhỏ hơn 3 tuổi và người bị bệnh phổi mãn tính, bao gồm hen suyễn. Rối loạn thần kinh có thể làm gia tăng nguy cơ bệnh nặng ở trẻ em.

Các bằng chứng được trình bày trong hội nghị cũng chỉ ra rằng các cộng đồng gặp bất lợi như các nhóm thiểu số và các dân cư bản địa, bị nhiễm bệnh nặng không theo tỷ lệ nào. mặc dù các lý do của việc gia tăng nguy cơ này chưa được làm rõ, lý thuyết đang khảo sát bao gồm các loại bệnh đi kèm như bệnh thận và hen suyễn, thường tìm thấy trong nhóm này và thường thiếu sự chăm sóc.

Mặc dù vai trò của bệnh béo phì chưa được làm rõ trong hiện tại, béo phì và nhất là béo phì bệnh lý được cho là chiếm tỷ lệ lớn trong các ca nặng và gây chết người. Béo phì không được nhận dạng là một yếu tố nguy cơ trong cả các đại dịch trong quá khứ lẫn cúm mùa.

WHO và các đối tác của WHO đang cung cấp những hướng dẫn kỹ thuật và hỗ trợ tưực hành nhằm giúp các nước đang phát triển có thể phát hiện và điều trị tốt hơn các loại bệnh gây ra do cúm đại dịch. Lời khuyên chăm sóc bệnh nhân áp dụng cho những nơi có nguồn tài nguyên giới hạn đang được soạn thảo gấp rút.

Nguồn: WHO

http://x-cafevn.org/node/2313

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s