suc vat ho chi minh pedophile rape and killed minors hiep dam giet cac be gai mien nam

suc vat ho chi minh pedophile rape and killed minors hiep dam giet cac be gai mien nam

suc vat ho chi minh pedophile rape and killed minors hiep dam giet cac be gai mien nam from ditmehochiminh on Vimeo.

“Cụ” rùa của Nông Đức Mạnh

LTS.- Đưa tin cụ Rùa nổi lên trên mặt nước Hồ Gươm trong những ngày qua, tập đoàn việt-gian-cộng-sản có ý bịp người dân Việt rằng bọn chúng được thuận theo ý Trời mà nắm quyền cai trị nhân dân trong nước.

Lầm, chúng lầm một cách thảm hại! Thần Kim Quy xưa hiện lên và trao gươm cho vua Lê lợi để đánh đuổi giặc Minh. Dẹp tan giặc, cụ Rùa lại nổi lên thâu hồi gươm báu lại.

Nay, trước hiểm họa việt-gian-cộng-sản ra thân khuyển mã làm tay sai cho Tàu cộng, dâng đất, nhượng biển của nước nhà cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc. Bán buôn người dân Việt làm lao nô, trò tiêu khiển tình dục cho các nước trên thế giới. Cưỡng bức cướp đoạt tài sản, nhà cửa, ruộng vườn của người dân trong nước. Đánh đập, khủng bố thủ tiêu những ai thực sự dám lên tiếng đòi quyền sống, quyền làm người. Đàn áp mọi tôn giáo bằng mọi phương tiện, vũ khí tôi tân nhất đối với những tín đồ, giáo dân tay không một tấc sắt chỉ biết cầu nguyện trong ôn hòa…

Cụ rùa lại nổi lên để báo hiệu cho toàn dân Việt Nam biết rằng: Giờ G đã điểm, toàn dân Việt Nam hãy sẵn sàng vùng lên diệt tập đoàn việt-gian-cộng-sản và đánh đuổi giặc Tàu phương Bắc ra khỏi bờ cõi Việt Nam như thời điểm Lê Lợi nhận kiếm báu và khởi binh xua quân Minh chạy trối chết về Tàu vậy.

Kính mời quý bạn đọc cùng theo dõi bài:

“Cụ” rùa của Nông Đức Mạnh

Nam Nhân

Tờ báo Metro ở Anh quốc, số ra ngày 13/10/2003, ở trang 3 có đưa tấm ảnh “cụ” rùa ở Hồ Gươm, Hà-nội với đầu đề: “Con vật cô đơn nhất thế giới” (The loneliest animal in the world).

Thế là “cụ” rùa cô đơn ở Hồ Gươm đã được toàn thế giới biết đến. Các nhà khoa học lo lắng về sự tuyệt chủng của “cụ” rùa Hồ Gươm. Bởi cho đến nay chủng loại của “cụ” không thấy xuất hiện bất cứ nơi đâu trên trái đất này.

Từ mấy năm nay, sau bài báo đầu tiên của ông giáo sư văn học của Hà-nội, Hà Đình Đức viết về “cụ” rùa, thì, các báo của đạo quân xâm lược cộng sản Việt Nam như tờ Nhân Dân, tờ Lao Động v.v… đều đưa tin về “cụ” rùa rất ư là trang trọng và khẩn thiết kêu gọi bảo vệ “cụ” và còn có ý định cưới vợ cho “cụ” nữa!!! Thế hệ trẻ của Việt-nam ở trong và ngoài nước; những người Việt không sống lâu năm ở cái đất Hà-nội dễ dàng tưởng tập đoàn xâm lược cộng sản Việt-nam rất quan tâm đến bảo vệ “cụ” rùa.

Theo “tộc phả” của “cụ” rùa thì hơn 500 năm trước đây, không biết có phải cụ rùa này không, hay các tiền bối của “cụ”, đã lấy lại gươm báu cứu nước từ tay vua Lê Lợi, sau khi quân xâm lược nhà Minh bị đánh tan.

Trong 500 năm đó, biết bao nhiêu biến cố xảy ra trên đất Hà-nội (xưa gọi là Thăng Long). Quân xâm lược triều Thanh bên Tàu; thực dân Pháp rồi Phát xít Nhật đều đã chiếm đóng Hà-nội. Nước thải từ các cống rãnh và nhất là ở nhà máy điện đã hạn chế sự phát triển của tông tộc “cụ” rùa. Nhưng số lượng họ “rùa” Hồ Gươm vẫn còn khá đông, cho đến tận cuối 1954.

Năm 1954, những người Hà-nội đi Nam để lánh nạn cộng sản; những người Hà-nội vì lý do nào đó còn kẹt lại ở Hà-nội và những người Hà-nội sau năm 1954 bị tập đoàn Việt gian Hồ Chí Minh bắt đi tù, đi lưu đày ở miền núi núp đưới mỹ từ “kinh tế mới” và biết bao người bị tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh – qua tay tên đao phủ có nghề hoạn lợn, thiến heo Đỗ Mười chém giết, trong cái gọi là “cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh”, đều từng được thấy họ hàng “cụ” rùa tụ tập trên dưới chục “cụ”, phơi nắng trên triền cỏ quanh tháp rùa; hoặc các “cụ” nổi lên lượn lờ tìm dưỡng khí, mỗi lần nhà máy điện thải nước ra hồ. Đó là trước khi tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh vào Hà-nội.

Tông tộc nhà cụ rùa đi đâu?

Chỉ tính từ khi Lê Lợi đánh đuổi quân Minh xâm lược về Tàu, hơn năm thế kỷ đã qua, Hà-nội đã bị gót giày xâm lược của từ quân Thanh (Tàu), cho đến Pháp, rồi lại Nhật, và Hà-nội trở về tay của những người chống xâm lược đỏ. Hà nội khi còn rực rỡ màu quốc kỳ (vàng với ba sọc đỏ), thì tông tộc nhà “cụ” rùa vẫn đông đúc. Chưa kể hằng năm nhân lễ Vu Lan, người Hà-nội đi lễ đền Ngọc Sơn và đền Bà Kiệu, có thói quen mua chim phóng sinh và mua rùa con phóng sinh bằng cách thả xuống Hồ Gươm. Làm gì có chuyện “cụ” rùa bị CÔ ĐƠN!!!

Thật đúng là “nước mất nhà tan”!

Cuối năm 1954, đạo quân lê dương gốc Việt đánh thuê cho thế lực thực dân đỏ Nga-sô và Tàu cộng – được đeo mặt nạ bằng danh xưng “Quân đội nhân dân”, hay còn gọi là “Bộ đội cụ Hồ” – đã đặt gót xâm lược đỏ lên Tổ quốc Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở ra phía Bắc. Và, Hà-nội bị tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh chọn làm “thủ đô” của quân xâm lược đỏ.

Tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh vội vã cụ thể hóa đường lối chính trị mà mẫu quốc Nga-sô đã trao nhiệm vụ cho chúng khi thành lập ra tổ chức Việt gian, Lào gian và Miên gian, mang tên “Đảng cộng sản Đông Dương”, vào đầu năm 1930.

Đường lối chính trị đó là:

“Trí, phú, địa, hào

Đào tận gốc, trốc tận rễ!!!”

Khác với năm 1930 là giai đoạn thực dân Pháp đang đặt ách cai trị lên toàn Việt-nam. Còn Việt-nam của năm 1948 trở đi, trên thực tế đã hình thành hai thế lực, hai tổ chức lực lượng vũ trang:

1.- Lực lượng nhân dân Việt-nam chống xâm lược đỏ, bảo vệ Tổ quốc Việt-nam, tập hợp xung quanh Quốc Trưởng Bảo Đại – Nguyên Hoàng Đế Bảo Đại, triều nhà Nguyễn và tháng 8 năm 1945, tự nguyện thoái vị, trao quyền cho toàn dân Việt-nam, để trở thành Cố vấn tối cao của Chính phủ Liên hiệp đa đảng.

Tượng trưng cho chính thể Quốc gia Việt-nam là quốc kỳ Việt Nam, nền vàng với ba sọc đỏ. Lực lượng vũ trang thuở đó có nhiệm vụ bảo vệ nhân dân Việt-nam, chống tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh, tay sai thực dân đỏ Nga-sô và Tàu cộng. Đấy chính là tiền thân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sau này. Và QLVNVH vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ chống xâm lược, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Tổ quốc từ đó cho đến nay.

2.- Ngay từ cuối năm 1946, tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh đã tạo chứng cớ giả để bôi nhọ các đảng phái quốc gia, các nhân sỹ, trí thức v.v…, nhằm loại bỏ họ ra khỏi chính phủ liên hiệp đa đảng, mà đỉnh cao là những cuộc “đấu tố chính trị”, để rồi sau khi Tàu cộng làm chủ lục địa, chúng dùng danh nghĩa Chính phủ Liên hiệp để điều động Quân đội Quốc gia, là danh xưng của lực lượng vũ trang của các đảng phái tham gia Chính phủ Liên hiệp đa đảng, qua Tàu cộng rèn luyện và vũ trang lại. Qua cái gọi là “rèn cán, chỉnh quân” và “mở rộng cửa đảng”, kết nạp ồ ạt vào cộng sản, chúng đã tiếm được quyền lãnh đạo Quân đội Quốc gia của Chính phủ Liên hiệp đa đảng. Chúng tự tiện đổi danh xưng Quân đội Quốc gia thành cái gọi là “Quân đội nhân dân” hay còn gọi là “Bộ đội cụ Hồ”. Mục đích của chúng là XOÁ DẤU VẾT ra đời của lực lượng vũ trang”. Đồng thời, chúng tự tiện thay đổi tôn chỉ của lực lượng vũ trang là “Trung với nước, hiếu với dân” thành “Trung với đảng, hiếu với dân; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Danh xưng Quân đội Quốc gia khi bị đổi thành cái gọi là “Quân đội nhân dân” hay “Bộ đội cụ Hồ” và tôn chỉ “Trung với nước” bị đổi thành “Trung với đảng”, thì kể từ đó cái gọi là “Quân đội nhân dân” đã thoái hoá thành công cụ chuyên chính của đảng Việt gian cộng sản, và nhiệm vụ của nó không phải là bảo vệ nhân dân, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, mà nhiệm vụ của nó là bảo vệ “đảng” – tức tập đoàn Việt gian chóp bu Hồ chí Minh và những kẻ thừa kế; bảo vệ “Liên-sô, thành trì cách mạng vô sản”- nghĩa là chết cho quyền lợi của Nga-sô và Tàu cộng để mở rộng bờ cõi đế quốc đỏ Nga-sô. Cho nên ý nghĩa chống thực dân Pháp lúc đó không mang mục tiêu là giải phóng nhân dân và bảo vệ Tổ quốc Việt-nam. Cái gọi là “Quân đội nhân dân” thực tế là đạo lính lê dương gốc Việt, đánh thuê cho Nga-sô và Tàu cộng, nhằm tranh giành thuộc địa với thực dân pháp trên bán đảo Đông Dương mà thôi.

Trong bối cảnh lịch sử như vậy, nên tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh phải che đậy mục đích phản dân, hại nước của chúng qua khẩu hiệu:

“Trí, phú, địa, hào

Đào tận gốc, trốc tận rễ!”

Thành:

1.- “Cách mạng văn hoá, tư tưởng” với cái gọi là “chống bè lũ nhân văn – giai phẩm”; “chỉnh huấn mùa Xuân”; “chống chủ nghĩa cá nhân” và “ôn nghèo nhớ khổ”, nhằm trấn áp tầng lớp trí thức; tiêu diệt và thoái hóa họ thành trí nô, thành “người nhộng” an phận, thủ thường với phương châm sống là:

“thứ nhất ngồi ỳ, thứ nhì đồng ý”

2.- “Thoái tô, giảm tức” và “cải cách ruộng đất” nhằm vô sản hoá toàn bộ nông dân, biến họ thành nông nô. Đồng thời qua đó tận diệt các đảng phái không cộng sản; các nhân sỹ; các chức sắc tôn giáo, tiến tới khống chế các tổ chức tôn giáo, tịch thu các tài sản cùng phương tiện hành đạo; đập tan tổ chức hành chánh cơ sở từ xã lên huyện, tỉnh, thành và khu. Từ đó tiêu diệt và loại bỏ ngay cả các đảng viên gia nhập đảng cộng sản vì cái bánh vẽ “độc lập, tự do, hạnh phúc” cho nhân dân và Tổ quốc VN, để hình thành các chính quyền hoàn toàn là tay sai cho Nga-sô và Tàu cộng, cũng như tổ chức của cộng sản từ cơ sở trở lên hoàn toàn là Việt gian từ đầu tới chân.

3.- “Chỉnh đốn tổ chức” kết hợp với “cải cách ruộng đất” nhằm tiêu diệt tầng lớp HÀO – tức tầng lớp quản lý xã hội từ cơ sở lên trung ương.

4.- “Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh” nhằm tiêu diệt giai cấp PHÚ – tức những người có khả năng sản xuất hàng hoá cho xã hội cũng như công việc lưu thông phân phối. Nghĩa là VÔ SẢN HOÁ THỊ DÂN.

Sau những phong trào “cách mạng” nói trên của tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh, nhân dân VN từ vỹ tuyến 17 trở ra Bắc HOÀN TOÀN NÔ LỆ TỰC DÂN ĐỎ Nga-sô và Tàu cộng. Tất cả bị tước đoạt tài sản để thành vô sản thực thụ; bị tước quyền đi lại; quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng; quyền sáng tạo lao động và ngay cả quyền mưu cầu hạnh phúc gia đình…!!!

Sau những cái gọi là “cách mạng” như nêu ở trên, tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh cho thực thi cái gọi là SỬA SAI. Nhưng thực chất của SỬA SAI chỉ là càn đi quét lại sao cho toàn dân trở thành NGƯỜI NHỘNG nghĩa là thành NÔ LỆ cả thể xác lẫn linh hồn!!! Vì thế, những người góp ý phát hiện “sai lầm” đều bị tiêu diệt, trấn áp như Luật sư Nguyễn Mạnh Tường; giáo sư Trương Tửu; thứ trưởng Bộ Văn Hoá Đỗ Đức Dục; Bộ trưởng tư pháp Vũ Đình Hoè v.v… Còn những tên tuy đeo nhãn “sai lầm” như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê văn Lương, Tố Hữu, Hồ Viết Thắng, Nguyễn Đức Tâm v.v… vẫn trèo ngày càng cao trên thang quan lại đỏ. Ngay như Đỗ Mười, leo tới ghế tổng bí thư tổ chức cộng-sản-việt-gian!!!

Trong những biện pháp phản dân, hại nước nói trên – được đeo nhãn hiệu “cách mạng”, binh lính, sỹ quan của cái gọi là “Quân đội nhân dân” – nhất là tụi chính trị viên và chính ủy, được điều động thực thi và nói chung, bọn chúng mẫn cán và tàn bạo nhất, vượt rất xa bọn hành chính, dân sự.

Cũng cần nhớ rằng, tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh dám làm việc phản dân, hại nước ấy, mà chính Hồ tự hào là “long trời, lở đất”, vì chúng làm chủ được lực lượng vũ trang – bao gồm lính và công an. Cho nên cái gọi là “Quân đội nhân dân” và “Công an nhân dân” thực tế lịch sử cho đến nay đã đủ bằng chứng để dán lên đầu bọn chúng bốn chữ “ĐAO PHỦ GIẾT DÂN”. Đó là bọn đâm thuê, chém mướn cho Nga-sô và Tàu cộng.

Thực dân đỏ Nga-sô và Tàu cộng tàn bạo gấp ngàn vạn lần thực dân Pháp; gấp ngàn vạn lần quân xâm lược Tàu khi xưa. Vì thế Hà-nội ngày càng tiêu điều, nhân dân lầm than, cảnh quan tăm tối. Và, tông tộc nhà rùa Hồ Gươm cũng bị tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh sát hại.

Những “cụ” rùa nhỏ cũng nặng hàng 80Kg, còn hầu hết các “cụ” có trọng lượng trên 120Kg.

Các “cụ” rùa đã bị Sở văn hoá thông tin Hà nội, với Nguyễn Bắc làm giám đốc, cùng hợp đồng với Trần Toàn – chủ nhiệm công ty ăn uống Hoàn Kiếm, và với Sở thủy sản Hà-nội do đích thân Nguyễn Trọng Tỉnh, tổng cục trưởng tổng cục thủy sản chỉ đạo, tổ chức đánh bắt lên ĂN THỊT, MAI THÌ ĐEM NẤU CAO. Chỉ còn mai của một “cụ” loại nặng trên 120Kg thì Nguyễn Bắc cho trưng bày ở Văn Miếu, nghe nói sau này chuyển đặt tại đền Ngọc Sơn. (ở Hồ Gươm).

Lý lịch tội phạm

1.- Nguyễn Bắc: người gốc Hải Dương (Bắc Việt), trình độ văn hoá: đỗ bằng tiểu học thời Pháp thuộc (certificat), xin làm giáo viên tiểu học trường làng, dạy lớp 1 – tức đồng ấu. Năm 1947, quân Pháp càn vùng Hải Dương, Nguyễn Bắc bị bắt cùng một số người, trong đó có liên lạc viên của Trần Vỹ, phó bí thư thành ủy của Hà-nội. Khi được tha, Nguyễn Bắc theo làm tà lọt cho Trần Vỹ.

Năm 1954, khi tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh đặt ách cai trị lên Hà nội, dù tên nào được cử về làm bí thư thứ nhất thành ủy cộng sản Hà-nội, từ Hoàng văn Hoan cho đến Nguyễn văn Trân, Trần Danh Tuyên, Nguyễn Lam, Nguyễn Thanh Bình, Lê văn Lương…, tất cả đều phải dựa vào băng đảng của Trần Vỹ, Trần Sâm (cả hai đều là phó bí thư) mới điều hành được công việc.

Nhờ là bộ hạ thân tín của Trần Vỹ và Trần Sâm nên dù mới được vào đảng cộng sản đầu năm 1952, trình độ văn hoá mới hết cấp một phổ thông, thế mà Nguyễn Bắc được cho làm giám đốc Sở văn hoá thông tin của Hà-nội và còn được lôi vào làm thành ủy viên cộng sản.

Ngu dốt, dâm đãng, tàn bạo, thích phô trương là đặc tính của giới quan lại đỏ – từ họ Hồ trở xuống, cho nên Nguyễn Bắc lợi dụng khả năng của một số văn nghệ sỹ trong phong trào “nhân văn – giai phẩm” bị “cải tạo lao động” ở Hà-nội, viết tiểu luận, kịch bản sân khấu v.v… dùm hắn. Thế là tất cả các đoàn từ ca múa đến kịch nói, chèo, cải lương của Hà-nội đều phải dàn dựng các tác phẩm “CỦA” Nguyễn Bắc.

Văn nghệ sỹ bị “cải tạo lao động” thì thâm, trong khi Nguyễn Bắc quá ngu dốt trên địa bàn văn học nghệ thuật, nên họ cố tình nhét những hạt sạn vào tác phẩm. Nếu không nhờ hai quan thầy là Trần Vỹ và Trần Sâm đỡ đòn hộ thì chắc chắn Nguyễn Bắc đã bị đá từ lâu và còn đau hơn Nguyễn Minh Cần, thường vụ thành ủy Hà-nội, giữ nhiệm vụ trưởng ban tuyên huấn kiêm chủ nhiệm nhật báo “Thủ đô Hà-nội”; chỉ vì phạm khuyết điểm về sinh hoạt (chứ không phải lập trường tư tưởng) mà ngay quan thầy là Tố Hữu cũng không đỡ nổi, phải nhường cái ghế trưởng ban tuyên huấn kiêm chủ nhiệm nhật báo “Thủ dô Hà-nội” cho Hồng Lĩnh giám đốc sở giáo dục Hà-nội, một tà lọt thân tín của Trần Quang Huy – đối thủ nặng ký của Tố Hữu!

Kết hợp về chuyện “sáng tác thơ” của Bút Tre, phó ban tuyên huấn tỉnh ủy của Vĩnh Phú (do hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Yên hợp lại) và cái “vô duyên” của nữ phóng viên báo nhân dân là Bạch Diệp làm vợ Xuân Diệu chưa đầy 24 giờ!, cũng như việc Học Phi từng là bí thư tỉnh ủy cộng sản ở Hưng Yên, trước tên chánh tổng ác ôn Đào Duy Tùng (bố của Đào Duy Quát) can tội hay đ… bậy như Hồ, nên ở Hà-nội đã xuất hiện đôi câu đối như sau:

“Thơ Bút Tre, ghe Bạch Diệp

Kịch Nguyễn Bắc, c… Học Phi”

Bắt rùa ở Hồ Gươm ăn thịt đã đành, Nguyễn Bắc còn cho quét vôi trắng lại tháp rùa vì sợ cái “rêu phong cổ kính” của tháp rùa … mất vệ sinh!

Nhiều người Hà-nội đã viết thư đến báo “Thủ đô Hà-nội” phản đối việc ăn thịt rùa Hồ Gươm của thành ủy cộng sản Hà-nội và việc quét vôi trắng Tháp Rùa, trong đó có nhà văn Nguyễn Tuân đã kêu lên rằng: “… cứ đà này ông Nguyễn Bắc sẽ MẠ KỀN Tháp Rùa!!!”

2.- Trần Toàn: quê ở Thanh Trì (xưa thuộc Hà Đông, nay nhập về Hà-nội), gia đình có nghề làm bánh cuốn cổ truyền của cả làng, mang tên bánh cuốn Thanh Trì.

Trần Toàn là người cùng làng nhưng khác thôn với anh hoạn lợn Đỗ Mười.

Trần Toàn là anh cả trong số ba anh em, cùng là công an cộng sản cả, và cùng là bộ hạ của Trần Vỹ và Trần Sâm, cho nên người em thứ hai được điều làm khu phó công an khu Ba Đình (Hà-nội). Còn Trần Toàn làm nhiệm vụ đặc biệt của công an, nhưng được cho về giữ ghế chủ nhiệm công ty ăn uống khu Hoàn Kiếm, Hà-nội (tất nhiên là công ty quốc doanh).

Trần Toàn sau cái gọi là “cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh”, thì hắn quản lý toàn bộ tất cả đầu bếp, các người chế biến ăn uống của toàn Hà-nội, nhất là các món đặc sản trong nước và một số món ăn của Âu châu. Việc phục cụ ăn uống của các hội nghị trung ương và Hà -nội đều do Trần Toàn chỉ đạo. Và tất nhiên Trần Toàn cũng là kẻ cung cấp sự hưởng thụ “tứ khoái” cho thành ủy Hà-nội và một số nhân vật chóp bu trong tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh.

Vì thế Trần Toàn góp phần chế biến thịt các “cụ” rùa Hồ Gươm cho cấp trên NHẬU.

3.- Nguyễn Trọng Tỉnh: Từng là trung đoàn trưởng trong đại đoàn Đồng bằng ngụy quân cộng sản khi Văn Tiến Dũng là đại đoàn trưởng.

1951, trung đoàn trưởng Nguyễn Trọng Tỉnh được điều về Thái Bình giúp việc chống càn của Pháp, và Tỉnh chịu sự chỉ đạo của Hà thị Quế, thường vụ tỉnh ủy cộng sản Thái Bình, kiêm khu ủy viên khu Ba – thời kỳ Đỗ Mười là bí thư khu ủy.

Nguyễn Trọng Tĩnh là nông dân 100%, nhưng cao, to, đẹp trai hơn trai thành thị nên đã làm Hà thị Quế mê lăn mê lóc. Trọng Tỉnh chỉ có nhược điểm là ngu độn, không thể học chữ được.

Còn Hà thị Quế, sau đó được chỉ định cùng lượt với Trần Độ (1960) làm ủy viên chính thức của trung ương cộng sản. Mụ giữ cả hai chức vụ cực kỳ quan trọng của tổ chức Việt gian cộng sản. Đó là: 1) phó ban thường trực ban tổ chức trung ương với Lê Đức Thọ là đầu lãnh. 2) phó ban thường trực ban kiểm tra trung ương, với Nguyễn Lương Bằng là đầu lãnh.

Mấy tên văn nô cộng sản viết sách bợ đỡ Hà thị Quế gọi mụ là “Cọp xám Yên Thế”. Nhưng để tả mụ, chắc phải dùng lại câu văn mà Vũ Trọng Phụng tả chi Doãn trong một truyện ngắn:

“Chị Doãn giống một người đàn ông không đẹp trai. Khi vắng nhà, chị chúm miệng huýt gió bài Marseillaise;” sẽ viết như sau: “Hà thị Quế giống một người đàn ông không đẹp trai. Khi có đám đông mụ cao hứng chúm miệng huýt gió bài “cùng nhau đi hồng binh”!”

Dù thất học, nhưng nhờ vợ là phó ban tổ chức trung ương nên Nguyễn Trọng Tỉnh được lôi lên ngồi cái ghế Tổng cục trưởng tổng cục thủy sản. Tuy thế, Trọng Tỉnh vẫn uất ức vì bị Hà thị Quế cưỡng bức lấy mụ, lại thêm quá ngu dốt không biết làm gì nên công việc ở tổng cục thủy sản có tổng cục phó lo hộ, Trọng Tỉnh chỉ ra công đi họp nước ngoài để ăn chơi và ngủ với hầu hết nữ nhân viên trong tổng cục thủy sản. Các cô bị dính bầu tùm lum. Hà thị Quế ra lệnh đưa các cô đi nạo thai và không biết học từ đâu mà Hà thị Quế cho đem các thai nhi đó ngâm trong mật ong gốc Hà Giang (ong ở đây toàn hút mật hoa cây thuốc phiện) làm thuốc bổ.

Môn thuốc bổ này được thượng tướng ngụy quân cộng sản Chu văn Tấn, kiêm trưởng ban bảo vệ sức khoẻ trung ương, đã phối hợp cùng ủy ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em do đích thân Phạm văn Đồng, thủ tướng kiêm chủ nhiệm ủy ban và mụ Đinh thị Cẩn – nguyên đầu bếp và cũng là bồ của Hồ – giữ ghế phó chủ nhiệm ủy ban, phụ trách thường trực.

Mụ Cẩn có trách nhiệm cung cấp thai nhi cho Chu văn Tấn để chế biến thành thuốc bổ. Nhờ thứ thuốc này mà từ Hồ cho đến Tố Hữu đều mặt mũi đỏ au như nhuộm phẩm. Phạm văn Đồng uống thuốc này mà phải lấy vợ nhỏ do nhà thơ Lưu Trọng Lư làm mối cho – Và ngay Tố Hữu từng tung tin bị liệt dương, cũng phải có bồ là nữ thư ký riêng. Sau bị lộ, Tố Hữu bèn bắt cô ta phải lấy một họa sỹ là em nuôi của cô ta. Sau này, khi leo lên tới ghế phó thủ tướng thường trực, Tố Hữu đã cho cô ta cái ghế tổng giám đốc một công ty liên doanh sản xuất thuốc Tây với Pháp !

Các giới chức quan lại đỏ chóp bu dùng thuốc này đều thành “dê cụ” cả. Từ Võ Nguyên Giáp đến Văn Tiến Dũng, Trần Độ, Song Hào, Phùng Thế Tài, Lê Hiến Mai… Từ Hồ đến Lê Duẩn, Phạm văn Đồng, Hoàng văn Hoan, Trần Quốc Hoàn, Lê Quốc Thân, Ngô Minh Loan, Hoàng văn Diệm, Nguyễn văn Trân, Hoàng Quốc Việt, Trần DanhTuyên, Phạm văn Kỉnh, Xuân Thủy, Hoàng Tùng, Trần Minh Tước (tức Xích Điểu), Trần huy Liệu, Trần Xuân Bách, Vũ Quang v.v… nhiều lắm kể không thể hết!

Ngưu tầm ngưu

Họ nhà rùa Hồ Gươm có từ trước thời Lê, đã trải qua bao lần đảo điên của các đạo quân xâm lược cả phương Bắc, cả phương Tây khi chúng chiếm đóng Hà-nội. Thế nhưng họ nhà rùa Hồ Gươm vẫn con đàn cháu lũ.

Chỉ khi quân xâm lược đỏ do tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh đặt ách cai trị Hà-nội, thì chẳng những nhân dân Hà-nội bị chém giết, mà tông tộc nhà rùa Hồ Gươm cũng bị làm thịt.

Về bề nổi, chúng ta chỉ biết sáng kiến bắt rùa Hồ Gươm là do bộ ba Nguyễn Bắc, Trần Toàn, Nguyễn Trọng Tỉnh đầu têu.

Chúng nói rằng rùa là một trong “tứ linh” (tức long, lân, quy, phụng), nhất là rùa “trăm năm tuổi”, tất thịt phải trị bách bệnh, trường thọ; còn cái mu rùa thì đem nấu cao, gọi là “cao quy” có tác dụng tốt về tình dục.

Cả bộ sậu Hồ chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm văn Đồng… đều biết việc ăn thai nhi, chúng còn nâng lên hàng quốc sách, nâng việc ăn thai nhi và nhau đẻ để giải quyết nạn khan hiếm thực phẩm – nhất là chất đạm.

Vụ rùa Hồ Gươm bị làm thịt cũng ồn lên một dạo ở Hà-nội. Tất cả đều im re. Ba tên tội phạm còn được thăng chức. Nguyễn Bắc sau này còn được nâng lên thành cố vấn văn hoá thông tin cho Hun Xen của Cam-bốt!!! Điều đó chứng tỏ chủ trương bắt rùa Hồ Gươm là do bọn đầu nậu Hồ chí Minh còn ba kẻ lộ mặt chỉ là lũ thừa hành lệnh trên.

“Cụ” rùa cô đơn và đô-la Mỹ

Sau 30/4/1975, lũ Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm văn Đồng, Đỗ Mười… những tên thừa kế họ Hồ, đã biết tới sức mạnh của đồng đô-la Mỹ. Cơn nghiện đô-la Mỹ của chúng càng bốc lửa khi “mở cửa” để đón hàng tỷ đô-la Mỹ của cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản xâm lược gửi về giúp thân nhân còn kẹt ở VN. Cái mồm của Phạm văn Đồng từng đứng giữa Paris , chửi cộng đồng tỵ nạn đó là “đĩ điếm, lười lao động, bám chân giặc Mỹ” v.v… vội đổi giọng thành “Việt kiều yêu nước”. Và lấc cấc như anh hoạn lợn Đỗ Mười cũng toe toét cười nịnh chủ nhân đô-la Mỹ là “khúc ruột ngoài xa”. May mà ở xa, chứ ở gần chắc bè lũ Việt gian Đỗ Mười đã đem “khúc ruột” ra làm “dồi tiết” để nhậu mất tiêu rồi!

Thế là bộ máy xâm lược đỏ vội nặn ra đủ mọi loại tổ chức “đảng”, “chính phủ” và “đoàn thể” để cố nắm lấy túi ĐÔ-LA Mỹ của cộng đồng của Người Việt ở hải ngoại.

Thôi thì, hết anh đại tá đạo quân lê-dương cộng sản gốc Việt, Bùi Tín cho ra lò nào “Hoa xuyên tuyết”, nào “Mặt thật”, nào “Mây mù thế kỷ” v.v… để cố che đậy bộ mặt ăn mày đô-la Mỹ, bằng cách khuyên cộng đồng người Việt hải ngoại “lập 4 quỹ tình thương” trong đó có cả quỹ giúp lính lê dương cộng sản gốc Việt bị thương vừa và nặng khi xâm lược VNCH!!! Và hắn còn xúi dại mọi người “từ bỏ quốc kỳ Việt-nam nền vàng ba sọc đỏ” cũng như đóng góp mỗi tháng một ngày lương để giúp bè lũ xâm lược ở trong nước. Cho đến nay mới chỉ có vợ chồng anh tiến sỹ quản trị Đoàn Viết Hoạt và anh em nhà Nguyễn Gia Kiểng chạy theo. Chưa rõ lũ tự nhận “trí thức trẻ Canada” trong nhóm bác sỹ Lâm Thu Vân, những kẻ liếm gót giầy xâm lược của tên Trần Độ, có từ chối Quốc kỳ của VNCH chăng?

Nghe theo tên đại tá lê-dương Bùi Tín, có nghĩa chúng ta chấp nhận thân phận tôi đòi cho bè lũ Đỗ Mười, Nông Đức Mạnh, vì đã đóng thuế thu nhập cho chúng – mỗi tháng một ngày lương như Bùi Tín quy định!!!

Rồi lại đến anh chàng, xưa người Hà-nội đặt tên là “Tây con, trùm nói phét” Vũ Thư Hiên, viết sách bốc thơm bản thân và gia đình, bạn bè quá cỡ thợ mộc. Người hải ngoại cả tin nên đã tấn phong anh chàng “phóng viên bậc 3” – tức bậc áp chót – thành NHÀ VĂN, dựa vào cuốn hồi ký “chính trị” của “người không làm chính trị”!!! (Vậy mà mọi cuộc họp chính trị đều thấy có mặt”. Viết hồi ký mà thành NHÀ VĂN thì… chú Cuội ở lỳ trên cung quảng là phải. Sự kiện trong hồi ký của Vũ Thư Hiên đều tô màu loè loẹt và đại mâu thuẫn, chỉ lừa được những người cả tin, chưa có kinh nghiệm với cộng sản và những kẻ khi ở tù cộng sản, vì chút quà thăm nuôi mà làm ăng ten cho địch.

Vũ Thư Hiên thì đẻ ra “văn phòng hội chống tham nhũng” ở hải ngoại, mục đích cũng vì đô-la Mỹ.

Đến bây giờ sự việc “cụ” rùa Hồ Gươm cô đơn và nhu cầu lấy vợ, lại là một sáng kiến của tập đoàn Việt gian Nông Đức Mạnh nhằm moi đô-la Mỹ của quốc tế và cộng đồng người Việt hải ngoại.

Điều lạ kỳ là chưa thấy anh em nhà Nguyễn Gia Kiểng hưởng ứng; chưa thấy đại tá lê-dương Bùi Tín đề nghị lập thêm “quỹ tình thương thứ 5” mang tên “Quỹ tình thương RÙA”; cũng như “phóng viên bậc 3” Vũ Thư Hiên – nhưng xuất hiện trên văn đàn từ đầu những năm 50 (?), chưa thấy bổ xung cho nhiệm vụ của văn phòng hội chống tham nhũng “hải ngoại” chống tham nhũng qũy bảo vệ và cưới vợ cho “cụ” rùa.

Chờ gì mà chưa ra chiêu hả mấy nhà đấu tranh cho dân chủ Cuội?

——————————————————————————–

1. tức đảng cộng sản VN

2. Có nghĩa là kể thhù của tập đoàn Việt gian cộng sản Hồ chí Minh.

3. Mọi nghị quyết của cộng sản VN cho đến di chúc của họ Hồ đề nhấn mạnh nhiệm vụ này.
4. có nghĩa đồng ý với mọi đường lối, chủ trương của cộng sản cho dù nguy hại bản thân hay Tổ quốc VN!

5. tiếng lóng miền Bắc, chỉ chỗ kín cuả phụ nữ.

6. Mặt thật của Bùi Tín – Saigon Press xuất bản 1993 – Trang 338-339

http://www.hon-viet.co.uk/NamNhan_CuRuaCuaNongDucManh.htm

Tạp ghi: Mậu Thân – Anh còn nhớ hay anh đã quên – Huy Phương

http://www.youtube.com/watch?v=HzRwEmefJ7s

http://www.youtube.com/user/12yyyy

http://cid-aa81455a56faec30.skydrive.live.com/browse.aspx/.Public/hue1968

Tạp ghi: Mậu Thân – Anh còn nhớ hay anh đã quên – Huy Phương

Vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968, Phan Văn Tuấn là một thiếu niên ở tuổi 16, đang là học sinh lớp Đệ Tam, trường tư thục Nguyễn Du, Gia Hội Huế, nhà ở khu Chợ Xép, sát cửa Đông Ba. Rạng sáng ngày mồng hai Tết, anh cũng như toàn thể dân chúng thành phố Huế nghe nhiều tiếng nổ chát chúa liên hồi, tiếng đạn pháo kích vào thành phố và tiếng súng giao tranh càng lúc càng nhiều. Lúc đầu, họ chợt choàng tỉnh dậy, và tưởng như nghe tiếng pháo mừng xuân của ai đó chợt nổ giữa khuya, nhưng sau đó vài phút, trưởng thành trong chiến tranh, người dân đều biết rằng thành phố đang bị tấn công và những cuộc giao tranh đang xẩy ra, bây giờ đang ở ngay trong thành phố. Tất cả đều xuống hầm trú ẩn hoặc ẩn nấp sát dưới sàn nhà, được che chở bởi những chiếc giường hay những chiếc “phản ngựa” bằng gỗ, và lo lắng theo dõi động tĩnh, từ đó cho đến sáng với niềm lo âu, giữa tiếng súng lớn nhỏ khi dồn dập khi thưa thớt trải dài trong đêm tối, giữa một đêm Huế mùa Xuân khá lạnh. Việt Cộng phản bội lệnh hưu chiến để đem quân tấn công nhiều thành phố và thị trấn miền Nam.

Vào tờ mờ sáng, từng đoàn dân chúng từ phía ngoài hớt hải chạy vào thành nội theo ngõ cửa Đông Ba và loan tin Việt Cộng đã về thành phố, ít lâu sau những toán Việt Cộng khác đã hiện diện trong vùng của Phan Văn Tuấn. Việt Cộng có hai thành phần, theo trang bị, cán bộ với dép râu, nón cối, quần dài màu olive, áo sơ mi trắng, đeo xắc cột và mang K.54., đứng tuổi, binh lính Việt Cộng với đầu trần hay nón tai bèo, dép râu, hầu hết mặc quần ngắn, áo đủ loại, mang ba lô, trang bị AK 47, lựu đạn, bộc phá. Ngay trưa mồng hai Tết, Phan Văn Tuấn chạy theo đám trẻ, chứng kiến cảnh xử bắn năm người dân tại ngay cửa Đông Ba, nạn nhân bị trói tay, đứng dựa lưng vào vách thành. Trong số thường dân này, có người đang mặc áo quần ngủ, có người còn đi chân đất, Phan Văn Tuấn chỉ nhận ra một người quen, đó là một viên chức cảnh sát trong thành phố đã về hưu. Chỉ huy toán võ trang và ban lệnh hành quyết năm người dân này là ông thầy dạy Việt Văn trước đây tại trường Nguyễn Du của Phan Văn Tuấn: Tôn Thất Dương Tiềm. Năm người bị bắn phơi xác giữa trời nắng, đầy kiến, ruồi và mãi mấy hôm sau gia đình mới lén lút mang về chôn cất.

Ba ngày sau, khi phi cơ của VNCH và Đồng Minh bắt đầu can thiệp bắn vào các mục tiêu của Cộng Sản, thì gia đình Phan Văn Tuấn quyết định chạy về phía đồn Mang Cá tức là bộ Tư Lệnh SĐ1BB. Họ tránh đi theo các con đường lớn và đi băng qua những khu vườn nhà dân, nhưng đến giữa đường thì bị Việt Cộng chặn lại, Phan Văn Tuấn bị tách khỏi gia đình và bị bắt dẫn đi cùng với một toán thiếu niên khác khoảng 10 người trở lại vùng chiếm đóng của Việt Cộng tại chùa Diệu Đế, Gia Hội. Toán thiếu niên này, dưới sự canh gác cẩn mật của những tên lính Việt Cộng, tuổi cũng còn rất nhỏ, được dùng trong việc khiêng vác những nhu yếu phẩm như gạo, nước mắm, mì gói từ các hiệu buôn trong thành phố về bộ chỉ huy. Năm ngày sau, toán dân công thiếu niên của Phan Văn Tuấn, vào mỗi đêm, được lệnh mang cuốc đi đào những giao thông hào trong vùng Gia Hội. Toán thiếu niên này đứng theo chiều dọc, đào những chiếc hố bề ngang khoảng hai thước, bề sâu một thước.

Thoạt đầu Phan Văn Tuấn nghĩ đây chỉ là những công sự cho bộ đội Việt Cộng tránh bom đạn trong thời gian VNCH bắt đầu phản công chiếm lại Huế, nhưng đến đêm giữa ánh đèn chập chờn, Việt Cộng bắt đầu dẫn ở đâu về từng toán người, cũng như năm người bị giết trong những ngày đầu tại cửa Đông Ba, đều mặc thường phục, có người mang dép, có người đi chân đất. Tất cả đều bị trói tay quặt ra sau lưng và được cột nối liền với nhau như những xâu người bằng những sợi giây điện thoại, giây kẽm hay lạt tre. Phan Văn Tuấn bắt đầu kinh hoàng khi thấy bọn lính Việt Cộng, giọng miền Bắc, ra lệnh cho hàng người đứng sát và xoay lưng về phía giao thông hào. Một tên cán bộ bắt đầu đọc bản án tử hình, đại khái cho rằng những người này là “phản bội tổ quốc, phản bội nhân dân”. Sau một cái khoát tay, một tràng AK chát chúa nổ, nhưng Việt Cộng chỉ nhắm bắn vào người đứng ở đầu hàng, trước sức mạnh của loạt đạn bắn gần, ông già bị hất ngửa ra, chới với trong mấy giây và lăn xuống hố. Sức nặng kéo theo người bên cạnh, người tiếp theo cũng đổ nhào, và cứ như thế kéo theo những người khác, tất cả đều ngã xuống giao thông hào. Giữa tiếng la khóc, van xin, não lòng vang cả một góc trời, bọn Việt Cộng bắt đầu thúc giục đám dân công của Phan Văn Tuấn: “Nấp, nấp nhanh lên, nhanh lên! Địt mẹ, nhanh lên!” Tiếng báng súng AK dọng vào vai, vào đầu, khi toán đào hố ngần ngừ, chậm tay. Phan Văn Tuấn sững sờ, một lưỡi lê đâm sát vào sườn, máu chảy đầm vạt áo. “Nấp đất đi mày”. Tiếng khóc la, những cái đầu muốn ngẩng cao hơn, những cái miệng đầy đất cát, nhưng đôi mắt trợn trừng, tức giận, tuyệt vọng, u uất. Những cú nện vào đầu nạn nhân đang vùng vẫy dưới hố, những tiếng chửi rủa tục tằn, thêm một tràng AK tiếp theo. “Nấp nhanh lên”. Tiếng ồn ào, kêu gào than khóc. Rồi tất cả trở lại im lặng như địa ngục. Hố sâu đã trở thành mặt bằng, nhưng đất còn cựa quậy, có nơi bỗng sụp xuống. Những người dân Huế dưới hầm mộ kia chưa chết hẳn, trừ ông già xếp hàng đầu, “may mắn” hưởng tràng AK đầu tiên.

Những lần sau, có lúc sợ ánh sáng từ họng súng khai hỏa sẽ bị phi cơ trinh sát phát giác, không cần dùng đến một viên đạn, tên lính Việt Cộng chỉ cần trở cán cuốc lại, đánh thẳng vào đầu nạn nhân đứng đầu hàng, người này ngã ngửa ra đằng sau, cứ tuần tự như thế, bị chôn sống từng hố từng hố một. Dưới áp lực của lưỡi lê, báng súng và sự canh gác cẩn mật, Phan Văn Tuấn và bạn bè đã trải qua những giây phút kinh hoàng, đào hố, lấp đất chôn đồng bào ruột thịt của mình.

Đó là nỗi đau đớn mà Phan Văn Tuấn phải chịu đựng, mục kích trong hơn chục lần trên mười hố chôn sống người như thế trong vùng đất quê hương hiền lành của Tuấn. Cuối cùng, Phan Văn Tuấn và hai người bạn đồng lứa khác đã trốn thoát được, chạy về phía phòng tuyến quốc gia, ôm chặt lấy người lính đầu tiên mà khóc nức nở. Sau khi quân đội VNCH chiếm lại Huế, Phan Văn Tuấn và hai người bạn đã đi tìm lại những giao thông hào mà VC đã chôn người, cho chính quyền địa phương cải táng. Tất cả những người khác trong toán “dân công” cùng với Phan Văn Tuấn đều đã bị bị Việt Cộng thủ tiêu trước khi rút ra khỏi thành phố.

Phan Văn Tuấn lớn lên, vào trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và trở thành một sĩ quan Pháo Binh, năm 1975, bị tập trung trong trại Cộng Sản và cuối cùng vượt biển sang Úc. Nhưng từ những ngày xẩy ra vụ thảm sát Mậu Thân, anh không bao giờ muốn trở lại Huế, quê hương của mình, không muốn nhìn lại cảnh Huế, nghe tiếng Huế, thưởng thức một dòng nhạc Huế với nỗi ám ảnh và mặc cảm khôn nguôi. Có ai lại ghê sợ chính với quê hương mình. Phan Văn Tuấn giấu cả với vợ con của anh những gì đã xẩy ra tại vùng Gia Hội trong những ngày tết Mậu Thân tại Huế. Anh muốn quên đi nhưng cơn ác mộng vẫn vò xé tâm hồn anh qua nhiều năm tháng, anh nhớ lại những cái đầu cọ quậy, những cái miệng đầy đất cát, những đôi mắt trợn trừng, van xin hay tuyệt vọng của đồng bào anh.

Năm ngoái, nhân dịp nhớ lại vụ thảm sát Mậu Thân tại Huế, sau gần 40 năm im lặng, Phan Văn Tuấn đã dành cho nhà văn Nam Dao trong chương trình phát thanh “Tiếng Dân Tôi” ở Adelaide, Úc một cuộc phỏng vấn mà qua đó, không những Phan Văn Tuấn đã xúc động vì hồi tưởng, khóc nức nở, mà chính người phỏng vấn cũng nghẹn ngào khóc theo. Nhắc lại vụ chôn người ở Huế, Phan Văn Tuấn như bị đưa vào một trạng thái mê sảng, điên cuồng, đau đớn như đang ở trong chính cơn ác mộng. Anh hứa rằng anh sẽ không bao giờ nhắc lại câu chuyện này một lần nữa với bất cứ ai, vì không chịu đựng nỗi đau đớn, dày vò đang hành hạ tâm hồn anh khi phải vận dụng trí não để hồi tưởng những câu chuyện cũ.

Không, anh Phan Văn Tuấn ơi, anh phải can đảm để sống và nhớ lại những gì anh đã trải qua, không phải riêng để cho những bà con xứ Huế, cho đồng bào mình, mà cả nhân loại cần có những nhân chứng như anh, để nói lên sự độc ác của con người, trong đó có sự độc ác từ bản chất, không thể tha thứ được của những con người Cộng Sản, mà ngày nay chế độ này đang còn ngự trị, làm tình làm tội cả dân tộc của chúng ta. Những con người này không còn lương tri, sống trong dối trá, nên Huế ngày nay mới có những con đường tủi nhục mang tên Mậu Thân, 68, để chúng cười cợt như lũ quỷ đói trên những linh hồn oan khuất của hàng nghìn đồng bào Huế vô tội của chúng ta.

Xin đừng bao giờ quên vụ thảm sát Mậu Thân! (Cuối năm Mậu Tý 2008)


Hue Massacre 1968

LIEN THANH-Gởi Thân Nhân Của Những Nạn Nhân Bị Thảm Sát Trong Biến Cố Mậu Thân 1968 tại Huế

http://www.youtube.com/watch?v=63jUBKlSjvM

LIEN THANH-Gởi Thân Nhân Của Những Nạn Nhân Bị Thảm Sát Trong Biến Cố Mậu Thân 1968 tại Huế

Thư Ngỏ Gởi Thân Nhân Của Những Nạn Nhân Bị Thảm Sát Trong Biến Cố Mậu Thân 1968 tại Huế

Hãy trả lại công bằng và công lý cho 1200 thường dân bị mất tích và 5327 thường dân vô tội bị cộng sản đập đầu chôn sống, bắn giết, trong Tết Mậu Thân tại Cố Đô Huế năm 1968.

Đồng bào Huế hãy hợp tác với chúng tôi trong nổ lực truy tố những kẻ sát nhân ra Tòa Án Hình Sự Quốc Tế về tội diệt chủng.

Liên Thành

Nguyên Chỉ Huy Trưởng BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế

Địa chỉ liên lạc:

nguyenphúclienthanh@gmail.com

biendongmỉentrung@yahoo.com

________________________________________________

Gần 42 năm trôi qua kể từ Tết Mậu Thân 1968, một quản thời gian không phải ngắn cho một đời người, nhưng đối với người dân Huế và thân nhân của 5327 nạn nhân trong cuộc tàn sát mà Hồ Chí Minh và Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam ra lệnh cho Khu Ủy Trị Thiên qua Chính ủy mặt trận Huế là Lê Chưởng áp dụng biện pháp “Bạo lực cách mạng” hay “Bạo lực đỏ” tàn sát đẩm máu đồng bào Huế chỉ vì họ không tham gia cuộc “Tổng mỗi dậy” do Đảng Cộng Sản Việt Nam chủ trương thực hiện tại Cố đô Huế trong những ngày đầu xuân Mậu Thân 1968, thì bốn mưoi hai năm trôi qua quả quá ngắn để hàn gắn những đỗ nát đau thương, những chua xót ngậm ngùi trong lòng mọi người dân Huế.

Biến cố lịch sử kinh hoàng nầy vẫn còn mới, còn đau và còn rĩ máu, bởii vì: nợ vẫn chưa được trả, công bằng và công lý vẫn chưa có.

Tôi, Liên Thành người đã có mặt trước, trong, và sau khi xẫy ra cuộc chiến Mậu Thân tại Huế, viết lại mấy dòng nầy, như là một bổn phận cho những người dân vô tội và chiến hữ của tôi đã ngã xuốngtrong biến cố đau thương nầy.

Mậu Thân 1968

Tháng 5 năm 1967, Hồ chí Minh chủ tọa phiên họp của Bộ chính trị trung ương đảng CS Việt Nam để duyệt xét tình hình và kế hoạch cho Chiến dịch đông xuân 1967-1968. Kế đến, từ ngày 20 đến ngày 24/10/1967, tại phiên họp của bộ chính trị, thay mặt Quân ủy trung ương, Tướng Văn Tiến Dũng trình bày dự thảo chiến dịch Đông- Xuân- Hè 1967-1968. Bộ Chính trị quyết định mở cuộc công kích, tổng nỗi dậy vào đúng Tết Mậu Thân 1968.

Như vậy cuộc TCK tổng nỗi dậy đã được bọn chúng quyết định vào tháng 10/ 1967. Để đánh lừa, tạo yếu tố bất ngờ, HCM tráo trở đề nghị hưu chiến 7 ngày trong dịp Tết Mậu Thân, nhưng chính phủ VNCH chỉ chấp thuận 3 ngày mà thôi.

Những họat động của Việt Cộng trước khi bọn chúng phát động cuộc tổng công kích đã được BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế ghi nhận như sau:

Tin tình báo kỷ thuật

Khỏang từ ngày 10/12/1967, gần 20 ngày trước cu65c tấn công, cơ quan tình báo dân sự đồng minh đã có một lọat không ảnh chụp được tại những vùng núi phía tây thành phố Huế như vùng thượng nguồn sông Bồ, sông Hữu Trạch, Khe Trái, động Chuối[núi Kim Phụng], không ảnh cho thấy một số lượng đông đảo các đơn vị của Việy Cộng đang tập trung tại các vùng trên.

Tin tình báo kỷ thuật cũng ghi nhận một số điện đài của các đơn vị lớn VC đang họat động trong những vùng nầy.

Tôi đã được cơ quan tình báo dân sự đồng minh thông báo đầy đủ.

Đồng thời họ cũng yêu cầu tôi xử dụng lực luợng tình báo cơ hữu Cảnh Sát Đặc Biệt để phối kiễm và xác nhận thêm các tin tức trên.

Lực luợng CSĐB của BCH/CSQG Thừa Thiên Huế, ngoài ngoài 13 ban đặc biệt của 13 quận thuộc tỉnh Thừa Thiên và thị xã Huế, chúng tôi còn có những tóan tình báo xâm nhập vào hằng ngũ địch trực thuộc Ban Họat Vụ sau nầy gọi là G công tác. Tất cả những đơn vị tình báo nầy đều bá cáo về BCH tỉnh những tin tức tương tự giống nhau:

– Dân chúng những vùng D, F [lượng giá tình hình an ninh] điều được cở sở VC địa phương thông báo “ Mọi gia d8ình trong vùng đều phải mua trử lương thực, dự trử thuốcc men, chuẩn bị cho một cuộc đánh lớn sắp xẩy ra.

– Một số cán bộ CS từ cấp huyện trở lên cũng đã đượcc lệnh rời khỏi địa bàn họat động lên mật khu hội họp.

– Thành phố Huế có 8 Chi bộ đảng CS và khỏang 80 cơ sở đảng bí mật đã có những họat động khác thường, bọn chúng tiếp xúc với nhauthường xuyên hơn.

– Các trạm giao lien nội thành có rất nhiều kẻ lạ xuất hiện.

– Nhiều cơ sở nằm vùng trong nội thành được điều động lên mật khu hội họp do Khu ủy Trị Thiên tổ chức. Bọn chúng rời thành phố vào đầu tháng 12/1967 và trở lại thành phố vào gần cuối tháng 12/1967.

Đương nhiên trong số những cơ sở lên lên họp trên mật khu có cơ sở nội tuyến của chúng tôi, vì vậy khi họ trở về chúng tôi nhận được bá cáo của họ như sau:

“Khóa học tập nầy có khỏang 300 can bộ và khoảng 130 cơ sở nòng cốt nội thành. Nội dung học tập là phương thức phát động quần chúng nỗi dậy tai nông thôn và đô thị. Nhiệm vụ của họ là sau khi trở về địa bàn họat động thành lập các đội công tác làm nòng cốt phát động quần chúng tổng nỗi dậy khởi nghĩa”.

Cũng cần nói rõ thêm trong số những cơ sở nội thành được điều lên mật khu có cả Giáo sư Đại Học Huế Lê văn Hảo và một số sinh viên đại học Huế, bọn chúng là cơ sở nội thành VC.

– Các thành phần tranh đấu năm 1966 thân cận của ông Thích Trí Quang đã thóat ly lên mật khu vào cuối tháng 6, tháng 7/1966, nay trong những ngày cận Tết đã đột nhập thành phố Huế và đang trú ẩn tại các căn cứ lõm của bọn chúng trong thành phố.

Căn cứ vào những sự việc nêu trên, cọng vào một số dự kiện khác chúng tôi cơ quan tình báo CSQG Thừa Thiên-Huế và cơ quan tình báo dân sự Hoa kỳ sau khi đã phân tích, lượng giá tin tức chúng tôi cùng đi đến kết luận chung là:

Việt Cộng sẽ tấn công Huế trong những ngày Tết Mậu Thân 1968.

Thế nhưng, cho đến ngày hôm nay, đã trên 42 năm trôi qua, câu hỏi mà nhiều ngừoi vẫn hỏi tôi:

“ Tại sao tin tức tình báo của CSQG và tình báo dân sự Hoa kỳ đầy đủ và chính xác như vậy mà thảm họa vẫn xẫy ra cho Huế:

VC tấn công và chiếm Huế 26 ngày, giết chết 5327 thường dân vô tội, bắt đi mất tích 1200 người. Tại sao?”

Có những điều sau đây có thể lý giải một phần nào:

– Bản chất người quốc gia quá thiệt thà, lương thiện, bị Hồ chí Minh và đảng Cộng Sản phỉnh gạt, lợi dụng

hưu chiến 3 ngày. Chính quyền miền Nam cũng như đồng bào không thể ngờ Hồ chí Minh và đảng Cộng Sản tán tận lương tâm đến độ lợi dụng những ngày Tết thiên liêng của dân tộc bất thần xua đại quân chém giết đồng bào, sát hại sinh linh vô tội.

Muôn vạn đời sau, mỗi độ tết về, lịch sử lại nhắc rằng, bọn Cộng Sản Việt Nam đã vô lương tráo trở, cuồng sát đồng bào Huế trong Mậu Thân 1968.

– Các cấp chỉ huy đã thiếu trách nhiệm, không có kế hoạch phòng thủ Huế.

– Các cấp chỉ huy Tỉnh, CSQG, Tiểu Khu đã cho lệnh xã trại 50% quân số, nên khi bị địch tấn công, không đủ lực lượng để phản công.

– Quan trọng nhất là tin tức tình báo từ CSBĐ thuộc BCH/CSQG Thừa Thiên Huế,một phúc trình rất đầy đử đích thân tôi đưa trình cho Ông Truởng Ty Đòan Công Lập nhưng ta bị ông ta ém nhẹm. Lý do ông ta là cơ sở mội tuyến cho cơ quan tình báo Việt Cộng, cán bộ Việt Cộng chỉ huy ông ta là tên Trung Tá VC điệp viên Hòang Kim Loan. Khi tôi trình bản tin với một số biện pháp đề nghị thì ông Đòan Công Lập lý luận rằng:

“Loan tin nầy chỉ sẽ làm kinh động dân chúng, chắc gì có thật”.

Trong thời gian nầy chúng tôi và tóan cố vấn tình báo dân sự Hoa Kỳ đã phát hiện Đòan công Lập là nội tuyến, chúng tôi đang phối hợp mật theo dõi đương sự.

Theo nguyên tắc chỉ huy, tôi không thể vuợt quyền, nhưng vì tình hình đã quá khẩn cấp và nghiêm trọng, tôi trực tiếp gặp Trung Tá Phan văn Khoa Tỉnh trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Thừa Thiên để cố thuyết phục ông ta phải có kế hoạch phòng thủ thành phố, còn nuớc thì vẫn còn phải tát. Nhưng rũi thay ông chỉ ừ hử cho qua chuyện mà không thèm để ý đến bản phúc trình của viên trung úy Phó Ty CSĐB mới 25 tuổi đầu non choẹt như tôi.

Kết quả Mậu Thân 1968 tại Huế thảm khốc hơn các nơi nào hết trên tòan cõi miền Nam Việt Nam với cái giá phải trả cho sự thiệt thà, ngây thơ, tắc trách, vô trách nhiệm, phản bội, của một số giới chức chính quyền Huế là:

5327 thường dân vô tội bị Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản tàn sát, bắt đi mất tích 1200 người.

Thi hành chỉ thị tàn sát đồng bào Huế của Hồ Chí Minh và bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam ngoài Lê Chưởng còn có những nhân vật sau đây:

1- Đại tá Nguyễn Mậu Huyên từc Bảy Lanh, tức Nguyễn Đình Bảy truởng ban An Ninh Tỉnh ủy Thừa Thiên, Thị ủy Huế.

2- Đại Tá Lê Tư Minh tư lệnh mặt trận Huế

3-Tống Hoàng Nguyên Trưởng Ban An Ninh Khu Ủy Trị Thiên-Huế.

4- Hoàng Phương Thảo Thuờng vụ Thành ủy Huế.

5- Trung Tá điệp viên Hoàng Kim Loan, Thành ủy viên Thành ủy Huế phụ trách “Tổng nỗi dậy”.

Họ xử dụng một số cơ sở nội thành Việt Cộng như :

1- Giáo sư Hoàng Phủ Ngọc Tuờng,

2- Sinh viên Y khoa Hoàng Phủ Ngọc Phan,

3- Nguyễn Đắc Xuân Sinh viên sư phạm ban Việt Hán,

4- Sinh viên luật khoa Nguyễn Thiết

5- Nữ Sinh viên dược khoa Nguyễn Thị Đoan Trinh,

6- Sinh viên Lê Hữu Dũng,

7- Nguyễn hữu Vấn, Giáo sư trường Quốc Gia âm Nhạc và kịch nghệ

8- Giáo sư Tôn Thất Duơng Tiềm, trường trung học Bồ Đề

9- Giáo sư Nhân chủng học thuộc viện Đại Học Huế Lê Văn Hảo 10- Cựu giám thị trường Quốc Học Huế Nguyễn Đóa cũng là cha vợ của Tôn Thất Duơng Tiềm.

11- Bà Đào thị Yến thuờng đuợc gọi là Bà Tuần Chi nguyên hiệu truởng truờng nữ trung học Đồng Khánh Huế.

12- Cha con ông Thiên Tuờng chũ tiệnm thuốc Bắc tại vùng An Cựu. Ông Thiên Tuờng là cha nuôi Đại Tá Công An Việt Cộng Nguyễn đình Bảy tức Bảy Lanh từ lúc Bảy Lanh còn nhỏ.

13- Tên Nguyễn Bé thờ nề, chủ tịch khu phố tại Quận II, thị xã Huế.

14- Tên thầy bói Diệu Linh ở khu phố Gia Hội, Quận II thị xã Huế.

Và một số đông các cơ sở nội thành của Việt Cộng nằn vùng từ lâu trong học sinh, sinh viên, công chức, cảnh sát, tiểu thuơng, thuơng gia.

Đặc biệt những kẻ đội lốp tu hành như Thích Đôn Hậu, Chánh đại diện Phật Giao Ấn Quang miền Vạn Hạnh, trù trì chùa chùa Linh Mụ, Thích Thiện Siêu Chùa Từ Đàm v.v…

Để chuẩn bị cho cuộc tổng công kích, tổng nỗi dậy tại Huế, vào ngày 21 tháng 1 năm 1968 trước trận đánh Mậu Thân, Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam đã gởi mật điện cho Trung ương Cục Miền Nam, Khu Ủy khu 5, và Khu ủy Trị Thiên-Huế yêu cầu Phạm Hùng, Võ Chí Công, Tướng Trần văn Quang thành lập mặt trận chính trị thứ hai lấy tên là Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hòa Bình. Tổ chức chính trị nầy được dựng lên nhằm phân hóa chính quyền miền Nam, tập hợp những cá nhân chống chính quyền miền Nam, chống Mỹ cũng như bất cứ tần lớp dân chúng nào họ có thể lối kéo.

Tại Trị Thiên-Huế, Liên minh này đuợc Thiếu Tuớng Trần văn Quang Tư Lệnh chiến truờng Trị Thiên-Huế và Lê Chưởng Chính ủy chiến trường cho lệnh thành lập truớc ngày giờ tấn công Huế, với thành phần gồm có:

1- Chủ Tịch

Ông Lê Văn Hảo, giáo sư Nhân Chủng Học Viện Đai Học Huế

2- Phó chủ Tịch

Ông Thích Đôn Hậu Chánh Đại Diện Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất miền Vạn Hạnh.

3- Tổng thư Ký

Ông Hòang Phủ Ngọc Tường nguyên giáo sư Trường Quốc Học. Đương sự cùng với em ruột là Hòang Phủ Ngọc Phan thoát ly lên mật khu vào tháng 6/1966 sau vụ tranh đấu của Thích Trí Quang tại miền Trung.

4- Phụ trách Học Sinh, Sinh Viên Giải Phóng

Ông Nguyễn Đắc Xuân nguyên Sinh viên Đại Học Sư Phạm ban Việt Hán. Đương sự thóat ly lên mật khu vào tháng 7 năm 1966 sau vụ tranh đấu vào tháng 6/1966 của Thích Trí Quang.

Ngoài ra trong suốt hai mươi sáu ngày Việt Cộng chiếm Huế, Ông Lê Văn Hảo còn được giữ chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa Thiên Huế. Bà Đào Thị Xuân Yến tức Tuần Chi giữ chức Phó Chũ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa Thiên Huế. Sinh viên Nguyễn Đắc Xuân giữ chức vụ Trưởng Đòan An Ninh và bảo vệ khu phố hay gọi là Đội tự vệ thành. Các nhân vật Hòang Phủ Ngọc Phan, Tôn Thất Dương Tiền, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Nguyễn Dũng, Nguyễn Thiết, Nguyễn Đóa v.v… đều ở trong đoàn An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân.

Ngoài ra Nguyễn Đắc Xuân còn đứng ra tổ chúc đòan Nghĩa Binh Cảnh Sát và giao cho Ông Nguyễn Văn Cán Quận Trưởng CSQG nguyên là Trưởng Ty CSQG Thị Xã Huế làm Truởng Đòan, và đòan Nghĩa Binh Quân nhân.

Hoàng Phủ Ngọc Tường đã được Hoàng Lanh và Trung Tá Hòang Kim Loan Thành Ủy Viên Thành Ủy Huế bổ nhiệm Chủ Tịch Tòa án Nhân Dân tại truờng tiểu học Gia Hội thuộc Quận II thành phố Huế. Nguyễn Đắc Xuân và Hòang Phủi Ngọc Phan được giữ chức Chủ Tịch Tòa Án Nhân dân tại Quận I trong Thành Nội Huế.

Rạng sáng mồng hai Tết Mậu Thân, đúng 2 giờ 33 phút, khởi đầu của 624 giờ đau thương, kinh hoàng. Từ rừng núi phía tây tràn vào, họ là “Quân Đội nhân Dân”, là “Quân Giải Phóng”, là những tên nằm vùng, những kẻ trí thức, giáo sư, sinh viên đã một thời tham gia trong phong trào tranh đấu Phật Giáo năm 1966. Họ đã thóat ly lên mật khu từ độ đó, nay theo lệnh của ông Hồ Chí Minh, của Bộ Chính Trị Đảng Công Sản Việ Nam trở lại Huế với guơm đao búa liềm, với mã tấu, với Ak47, với B40, bắn sập thành phố, thẳng tay chém giết hằng loạt dân lành vô tội nhằm trả mối hận xưa, để “giải phóng “ đồng bào Huế. Và Huế trong 624 giờ đồng hồ, đã trãi qua từng giây một,từng phút một, tùng ngày một với những tang tóc điêu linh, những máu và nuớc mắt của hằng chục ngàn ngừoi dân bỡ ngỡ, ngơ ngác trước sự hiện diện của cái ác không ai ngờ tới.

Trong trận Mậu Thân, cộng quân đã tung vào chiến trường Huế gần 10 ngàn quân trong đó có 4700 quân chính quy Bắc Việt. Số còn lại là quân MTGPMN, du kích của các Huyện, và đám cơ sở nằm vùng, những lực lượng của ông Thích Đôn Hậu và Thích Trí Quang trong vụ tranh đấu năm 1966.

Mười ngàn quân nầy không phục vụ dưới ngọn cờ đỏ sao vàng, cũng chẳng phục vụ dưới bóng cờ của MTGPMN mà phục vụ dưới ngọn cờ của Lien Minh Các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ Hòa Bình do Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam mới thành lập mà Chủ tịch là giáo sư Lê văn Hảo, Phó chủ tịch là Thích Đôn Hậu, tổng thư ký là Hoàng Phủ Ngọc Tường và phụ trách học sinh, sinh viên trí thức là Nguyễn Đắc Xuân.

Bọn nằm vùng địa phương đã phối hợp với cộng quân để gieo rắc đau thương cho đồng bào Huế trong 624 giờ kinh hoàng đó. Huế đã dìu nhau chạy trốn trong bước chân khập khiễng và nỗi kinh hòang. Có thể nói ở Huế lúc đó mỗi thước đất là một thây người, là một vũng máu tươi chưa kịp đổi màu. Huế ngập trong thây ngừoi và biển máu, từ bờ cây bụi cỏ, đường lớn đường nhỏ, từ trong nhà ra đến sân, sân trước, sân sau!

Sáng ngày mồng hai, trời chưia sáng hẳn, một số lớn gia đình trong ba quận đã bị Việt Cộng và đám chỉ điểm xông vào từng nhà lục sóat tìm kiếm những “ công an, cảnh sát, ngụy quân, ngụy quyền” đang ẩn trốn đâu đó, và hằng lọat súng đã nổ bắn vào họ, nhưng người đang cố gắng trốn tránh, đào thóat khỏi nhà, tim đường về đơn vị.

Khoảng 6 giờ sáng, suơng chưa tan, trời trở lạnh và thấp, Huế bật khóc trong nghẹn ngào, đau đớn, khi trên kỳ đài Phú văn Lâu lá quốc kỳ không còn đó nữa. Thay vào đó là một lá cờ gồm 3 mảnh: Hai mảnh hai bên màu xanh nhạt, mảnh giữa màu đỏ có ngôi sao vàng. Dân chúng Huế cứ ngỡ là cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Thật tình không phải, cờ MTGPMN chỉ có 2 mảnh, một mảnh màu xanh nhạt, một mảnh màu đỏ giữa có ngôi sao vàng. Lá cờ treo trên Kỳ Đài Ngọ Môn là cờ của Liên Minh các lực Lượng Dân tộc, Dân Chủ và Hòa Bình.

Ngày mồng hai Tết, dân Huế bắt đầu chạy giặc từ 7 giờ sáng. Họ bỏ lại tất cả để chạy trốn. Nhà cửa tài sản bỏ lại đã đành, ngay quần áo cũng không kịp mang theo, thức ăn, nuớc uống cũng quên, chỉ mong rời khỏi nhà càng sớm càng tốt. Già trẻ, lớn bé, cha mẹ, con cái dắt dìu nhau tìm đường chạy trốn. Bọn Việt Cộng nổ súng vào đoàn người đang hổn loạn, hốt hoảng chạy tìm nơi bình yên trú ẩn. Thây người ngã ngục, máu đào dân lành tuôn rơi, tô đỏ cờ sao vàng của đảng Cộng Sản Việt Nam.

-Tại vùng Bến Ngự, Nam Giao, Từ Đàm dân chúng kéo nhau chạy trốn lên vùng nhà máy nước Vạn Niên gần đồi thong Quãng Tế sát cạnh chùa Từ Hiếu.Có nhiều đòan người chỉ đi được nửa đường thì bị bọn Việt Cộng pháo kích chận lại, nên đành phải quay trở về.

– Tại làng Phú Cam, lực lượng địch đã vây kín, dân chúng kéo nhau vào trú ẩn tại nhà thờ chánh tòa Phủ Cam.

– Riêng tại Quận III Thị xã Huế, từng đòan ngừoi từ vùng cầu Kho Rèn, dọc đường Phan Đình Phùng ,vùng An Cựu và xóm đạo dòng Chúa Cứu Thế, kéo nhau chạy trốn vào nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế, trường trung học Thiên Hựu.

– Dân cư vùng cầu số 7, vùng Hàng Me, khu vực Đập Đá, khu trường trung học Nguyễn Tri Phuơng kéo chạy vào trú tại trường trung học Kiễu Mẫu nằm sát cạnh Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế và BCH/Tiểu Khu.

– Tại Quận II thị xã Huế, một số ít dân chúng chạy trốn vào chùa Diệu Đế, chùa Ông, chùa Áo Vàng, trường trung học Gia Hội, đại đa số dân chúng còn lại trốn tại nhà.

– Tại Quận I thị xã Huế, dân chúng đều tìm đường chạy trốn về trú ẩn vùng Câu Kho, Mang Cá nơi có Bộ Tư Lệnh Sư Đòan I Bộ Binh của Thiếu Tướng Ngô Quang Trưởng che chở cho họ.

Trời đất như báo hiệu cho biết những ngày tang tóc của Huế đã bắt đầu đến. Không như năm trước, năm nay trời trở lạnh nhiều và cơn nưa phùn đã bắt từ ngày mồng hai Tết, kéo dài trong suốt 26 ngày, thời gian chiến cuộc tại Huế. Bầu trời u ám , mây xám đặc phủ cả thành phố. Huế trong cơn mưa lạnh giá buốt của đất trời, và trong nỗi sợ kinh hải của người dân đang chạy giặc.

Súng nổ từ khuya đến suốt ngày mồng hai Tết, và vẫn tiếp tục nổ…Lâu lâu trên bầu trời xám xuất hiện một chiếc máy bay quan sát L-19, hoặc môt chiếc trực thăng bay thật cao lạc lõng giữa bầu trời cố đô Huế, lập tức hằng lọat súng của Việt Cộng từ mọi nơi trong thành phố bắn lên máy bay. Hằng trăm, hằng ngản lọat đạn nổ rền làm tăng thêm nỗi thất vọng của mọi ngừoi.

Trong khi lực luợng quân sự của Việt Cộng đang tấn công vào những vị trí quan trọng trong thành phố, thì bộ phận chính trị, an ninh của Bộ Tư Lệnh Mặt Trận Quân Khu Trị Thiên-Huế phối hợp với ban An ninh Tỉnh Ủy, Thị Ủy Thừa Thiên-Huế cùng đám Việt Cộng nằm vùng bắt đầu tắm máu, tàn sát dân Huế.

Toàn bộ lực luợng an ninh do hai cán bộ cấp Khu chỉ huy là Tống Hoàng Nguyên, và phụ tá là Đại tá Công An Nguyên Đình Bảy tức Bảy Lanh .

Về chính trị, thành ủy viên Hòang Kim Loan và Hoàng Lanh phụ trách thành lập chính quyền Cach Mạng tại Huế và phát động quần chúng thực hiện cuộc “tổng nỗi dậy”.

Cả hai nhóm an ninh và chính trị nầy hoạt động song hành và kết hợp với lực lượng cơ sở nội thành gồm thành phần trí thức , sinh viên, những thành phần đã từng tham gia trong phong trào dấy lọan của ông Trí Quang, Đôn Hậu vào năm 1966. Những thành phần nầy tạo thành một lực luợng hùng hậu và sắt máu nhất, bọn chúng đã tàn sát dân Huế không một chút nuơn tay.

Ngay từ rạng sáng ngày mồng hai Tết, lực lượng an ninh Khu Ủy Tri Thiên và tỉnh thị ủy Thừa Thiên-Huề đã bắt một số ngừoi mà bọn chúng đã có sẵn danh sách và đem giam tại Tòa Đại Biểu chính phủ VNCH tại đương Lê Lợi thuộc Quận III thị Xã Huế.

Sáng ngày mồng ba Tết tức ngày 3 tháng 2 năm 1968 dương lịch, Tống Hoàng Nguyên, Bảy Lanh, Hoàng Kim Loan, nhận lệnh trực tiếp từ Lê Chưởng, chính ủy mặt trận Huế bắt đầu thi hành Nghi quyết của Bộ chính trị là “tổng nỗi dậy, thiết lập chính quyền cách mạng”. Thành lập mặt trận thứ 2 lấy tên là Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hòa Bình [Mặt trận thứ nhất là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam] và lùng diệt, truy quét thành phần ác ôn, tàn binh “ngụy”, Công an Cảnh sát “ngụy”, các thành phần tay sai làm cho tình báo CIA.

Đây là những chi tiết được biết sau nầy theo lời khai của Thành ủy viên Hòang Kim Loan bị Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế bắt vào mùa hè đỏ lửa tháng 5/1972.

Phân công của các cán bộViệt Cộng

1- Thanh lập chính quyền cách mạng cấp quận, tỉnh và chuẩn bị “tổng nỗi dậy” ngừoi lãnh đạo và phụ trách hai công tác nầy là Thành ủy viên Hòang Kim Loan và Hòang Lanh.

Sáng ngày mồng hai Tết, sau buổi mít tinh tại Quận I và Quận II ,với đám cơ sở nằm vùng, Hòang kim Loan và Hòang Lanh để cử hai cơ sở nằm vùng của bọn chúng nắm giữ chức vụ Ủy ban Nhân dân Cách mạng Quận I và II:

1- Nguyễn Hữu Vấn, giáo sư trường Quốc Gia Âm nhạc và Kịch nghệ làm chũ tịch Ủy Ban Nhân dân Cách mạng Quận I

2- Nguyễn Thiết chũ tịch UBCM quận II.

Nguyễn Thiết vuợt tuyến vào Nam nắm 1957. Sau đó học luật. Thành viên trong ban chấp hành Tổng hội Sinh viên Đại học Huế. Là Can bộ Cộng Sản nằm vùng trong Tổng Hội Sinh viên Đại Học Huế từ lâu.

3- Tại Quận III.

Đại Tá Công An Nguyễn đình Bảy tự Bảy Lanh kiêm nhiện chức vụ chủ Tịch ủy ban Nhân dân Cách mạng Quận III.

4- Chính quyền Ủy Ban Nhân dân Cách mạng tỉnh.

– Chủ tịch ủy ban Nhân dân Cách Mạng Thừa Thiên –Huế : Giáo sư Nhân chủng học thuộc viên Đại Học Huế, Lê văn Hảo.

Lê văn Hảo là một trong những thành phần tranh đấu tích cực của ông Thích Trí Quang vào năm 1966.

Giáo sư Lê văn Hảo là cơ sở Trí vận dứới sự điều khiển của Thành ủy viên Hòang Kim Loan.

– Phó chủ tịch là bà Đào thị Yến tức bà Tuần Chi, nguyên hiệu trưởng trường nữ trung học Đồng Khánh Huế, cũng là cơ sở trí vận dưới quyền điều khiển của Hoang Kim Loan.

– Đồng phó chủ tịch là thường vụ Thành ủy Hòang Phương Thảo.

Liên Minh Các Lực Lượng Dân Chủ Dân Tộc Hòa Bình tại Huế

– Chủ tịch : Giáo sư Lê Văn Hảo.

– Phó chủ tịch: Thích Đôn Hậu.

Thích Đôn Hậu là cơ sở tôn giáo vận của thanh ủy viên Hoang Kim Loan.

Thích Đôn Hậu trù trì chùa Linh Mụ, là Chánh Đại Diện Phật giáo Ấn Quang miền Vạn Hạnh.

– Tổng thư ký: Giáo sư Hoang Phủ Ngọc Tuờng

– Phụ trách học Sinh Sinh Viên, các thành phần trí thức : Nguyễn Đắc Xuân.

Theo đài phát thanh Hà Nội, phát đi bản tin vào ngày mồng 3 Tết, tức là ngày 1tháng 2 năm 1968 thì đây là một lực lượng kết hợp nhân sĩ, trí` thức, học sinh, sinh viên và tôn giáo[Phật Giáo] yêu nước vừa mới thành lập tại Huế nhằm đứng dậy chống đế quốc Mỹ và đám tay sai bọn “ ngụy quân , ngụy quyền”.

Lùng, diệt, truy quét ác ôn, tàn binh “ngụy”, tay sai CIA.

Ngoài ra, thi hành chỉ thị của Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam và Lê Chưởng Chính Ủy mặt trận Huế, Tống Hòang Nguyên

Trưởng ban An Ninh Quân Khu Trị Thiên, và Đại Tá Công An Nguyễn Đình Bảy trưởng Ban An Ninh Thưa Thiên-Huế đã ra lệnh cho Nguyễn Đắc Xuân thành lập 3 lực luợng để phối hợp hành động với ban An Ninh Khu và Tỉnh, Thị là:

1- Lực Luợng Nghĩa Binh Cảnh Sát.

2- Lực lượng Nghĩa Binh Quân Nhân

3- Các Đội Tự Vệ thành.

– Lực Lượng Nghĩa Binh Cảnh Sát.

Nguyễn Đắc Xuân giao lực lượng nầy cho Ông Nguyễn văn Cán nguyên Ty CSQG thị xã Huế chỉ huy. Cũng cần phải nói rõ thêm, Nguyên Văn Cán ngạch Quận Trưởng Cảnh Sát VNCH. Là tay chân thân cận của Ông Thích Trí Quang, trong suốt thời gian tranh đấu của Thích Trí Quang và 1966, Quận Cán được bổ nhiệm trưởng Ty CSQG thị xã Huế.

Quận truởng CSQG nguyễn văn Cán cũng là cơ sở Việt Cộng nội thành Trung Tá điệp viên Cộng Sản Hòang Kim Loan là cán bộ diều khiển của Quận Cán. Ngoài ra theo lời khai của Hoàng Kim Loan, chính y và thành ủy viên Hoàng Lanh cũng đã nhiều lần trú ngụ tại nhà Quận Cán.

Lực lượng Nghĩa Binh Cảnh Sát chỉ là hữu danh vô thực trong suốt thời gian Việt Cộng chiến Huế chẳng quy tụ được nhân viên Cảnh sát nào cả.

– Lực Lượng Nghĩa Binh Quân Nhân

Nguyễn Đắc Xuân giao cho Đại Úy Nguyễn Văn Lợi Sĩ quan QLVNCH. Lực Lượng Nghĩa Binh Quân Nhân nầy ngòai Đại Úy Lợi ra còn có được khỏang 10 tên Lao công đào binh gia nhập.

Chúng tôi không có một tin tức nào ghi nhận mọi họat đông của hai lực lương nầy trong thời gian đó.

– Đội tự vệ Thành

Trực tiếp chỉ huy là Nguyễn Đắc Xuân, đoàn viên là những thành phần tranh đấu trong vụ tranh dấu 1966 của ông Thích Trí Quang, một số thóat ly lên mật khu vào thang 6, 7/1966 khi phong trào tranh dấu của ông Thích Trí Quang thất bại, một số bị bắt ở tù ra tái họat động trở lại, số khác là cở sở nằm vùng trong mọi thành phần quần chúng tại Huế như: Giáo sư , học sinh, sinh viên , tiểu thuơng v.v…

Đội tự vệ Thành của Nguyễn Đắc Xuân là lực luợng nguy hiểm nhất, bọn chúng phụ trách chỉ điểm, bắt bớ và hành quyết dân chúng , dân, quan, cán, chính VNCH .

Hầu hết những ngừoi bị bắt, bì hành hình, bị bắn, bị chôn sống trong thành phố suốt 26 ngày đều do Nguyễn Đắc Xuân và lực lượng của y thực hiện theo chỉ thị của đảng CSVN

Tóm lại, Lực lượng Nghĩa Binh Cảnh Sát, Lực Lượng Nghĩa Binh Quân Nhân, Lực Luợng Liên Minh Dân Chũ Dân Tộc Hòa Bình mà Ông Hồ chí Minh và Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam trình làng quốc nội và quốc tế trong tết Mậu Thân tại Huế với 2 mục đích rõ rệt:

1- Dùng các lực lương nầy để lôi cuống quần chúng Huế tham gia vào cuộc “Tổng nỗi dậy”. Một hình thức như năm 1966 khi bọn chúng kết hợp với Trí Quang, Đôn Hậu, Thiện Siêu gây ra vụ biến động miền Trung. Còn nhớ bọn chúng và Ngô Kha, Nguyễn Đắc Xuân đã thành lập Chiến đòan Quân Nhân Phật Tử Nguyễn Đại Thức, lực lương Cảnh Sát Phật Tử, lực lượng Học Sinh, Sinh Viên Quyết Tử v.v…Tóm lại là bình mới nhưng rượu củ.

2- Ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam đã tráo trở bỉ ổi đánh lừa dư luận quốc tế:

Đã có cuộc Tổng nỗi dậy tại Huế, dân chúng đã tự động thành lập các lực lượng trên, đã tham gia đông đảo từ quần chúng, trí thức ,sinh viên, đến Quân Đội, Cảnh Sát Quốc Gia, tất cả đồng đứng lên chống Chính phủ trung ương Saigòn, chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Nhưng ông Hồ và đảng Cọng Sản Việt Nam đã uớc tính và đánh giá sai lầm nên đã bị thất bại nặng nề trong âm mưu nầy: Dân chúng miền Nam thấy rõ, Quốc tế thấy rõ, Huế chẳng có cuộc Tổng nỗi dậy nào của quần chúng Huế trong Tết Mậu Thân 1968, mà lực lượng Quan Đội Nhân Dân, quân Giải Phóng, của ông Hồ đến vùng nào, chiếm vùng nào thì dân Huế kinh sợ bỏ trốn, rời khỏi vùng đó bằng mọi giá.

Thất bại vì không thể lối cuống dân chúng Huế theo chúng, không thể phát động cuộc Tổng nỗi dậy, Ông Hồ và Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam quyết định áp dụng “Bạo lực Cách mạng” hay “Bạo lực đỏ” để hăm dọa , trừng trị dân chúng Huế.

Trách nhiện thi hành Bạo lực Cách mạng được giao cho Ban An ninh Quân Khu Trị Thiên, ban An ninh Tỉnh Thị ủy Thừa Thiên-Huế, hai cơ quan an ninh nầy phối hợp chặc chẽ với các Đội Tự Vệ Khu Phố do Nguyễn Đắc Xuân chỉ huy, đòan viên của các đội Tự Vệ, những thành phần chủ chốt và sắt máu gồm có:

1- Các cơ sở nằm vùng từ lâu trong quần chúng thuộc các Quận I, II, III trong thành phố Huế.

2- Các thành phần trong Phong Trào Tranh Đấu Phật Giáo năm 1966 của ông Thích Trí Quang đã thoát ly lên mật khu nay trở lại thành phố.

3- Những cơ sở bí mật nội thành như:

– Hòang Phủ Ngọc Tường Giáo Sư Quốc Học

-Hòang Phủ Ngọc Phan, Sinh viên Y Khoa Đại học Huế.

– Nguyên Đóa cựu Giam thị trường Quốpc Học

– Nguyễn Thị Đoan Trinh [con gái của Nguyên Đóa] Sinh viên Duợc Khoa Đại Học Sàigon.

– Tôn Thất Dương Tiềm, Giáo sư Trường Trung Học Bồ Đề[ Con rễ của Nguyễn Đóa]

– Nguyễn Thúc Tuân nhân viên nhà thuốc Tây Tràng Tiền, Huynh Trưởng Hướng Đạo

– Lê hữu Dũng sinh viên đại học Sàigon, con trai của Lê Hữu Tý cơ sở kinh tài thuộc Thành Ủy Huế.

– Nguyễn Tròn bồi bàn tiệm ăn Quốc Tế tại đường Phan bội Châu, Huế.

– Nguyễn Bé, thợ nề tại Quân II thị xã Huế.

– Tên Gù tại tiệm bán thuốc lá cẩm lệ, Quận II thị xã Huế.

– Tên Trần Văn Linh, tức tên thầy bói toán Diệu Linh thuộc Quân II thị xã Huế.

– Chũ Tiêm thuốc Bắc Thiên Tuờng và hai ngừoi con trai là cán bộ Xây Dưng Nông Thôn.

Và… còn quá nhiều…. mà trí nhớ tôi không đủ sức nhớ hết.

Các Đội Tự Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân duợc rãi đều khắp 3 quận, đặc biệt là Quận I, và Quận II thị xã Huế. Đây là một lực luợng sắt máu và tàn bạo nhất, bọn chúng chính là thủ phạm của những vụ chỉ điềm, bắt bớ, sát hại hằng trăm, hàng ngàn đồng bào vô tội ở Huế.

Những nhân vật chũ chốt trong việc thi hành lệnh “Bạo Lực Cách Mạng hay Bạo Lực Đỏ” gồm:

1- Lê Chưởng Chính Ủy mặt Trận Huế

2- Đại Tá Lê Tư Minh Tư Lệnh mặt trận Huế.

3-Tống Hòang Nguyên: Trưởng Ban An Ninh Quân Khu Trị Thiên

4- Đại Tá Công an VC Nguyễn Đình Bảy tự Bảy Lanh Trưởng ban an ninh tỉnh thị ủy Thừa Thiên –Huê.

5- Trung Tá điệp Viên Hoàng Kim Loan, thành ủy viên Thành ủy Huế.

6- Hoang Lanh Thanh Ủy viên thành ủy Huế.

7- Hoàng Phủ Ngọc Tuờng, Tổng thư Ký lực lượng Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hòa Binh.

8- Nguyễn Đắc Xuân, phụ trách học sinh, sinh viên, thành phần trí thức của lực lượng Liên Minh Dân Chũ dân Tộc Hòa Bình.

8- Nguyễn Thiết Chũ tịch Quận II.

9- Nguyễn Hữu Vấn, chũ tịch Quân I.

Kế hoặch được chia làm 3 giai đọan hết sức tinh vi:

Giai đọan I: Đợt trình diện lần thứ I

Đại lực lượng nầy chia thành nhiều toán nhỏ rãi đều trong 3 quân thanh phố Huế, bọn chúng đi lục sóat từng nhà , từng gia đình, kêu gọi tàn binh, Ngụy quân, Ngụy quyền, Cảnh sát, Công An Ngụy ra trình diện và giao nạp vũ khí để được khoan hồng.

Ngòai ra trong khi lục sóat từng gia đình bọn chúng đã bắt một số ngừoi mà bọn chúng đã có danh sách từ truớc.

Trong đợt trình diện lần thứ I nầy, đã có mộpt số ít công chức , quân nhân, CSQG trốn tại nhà đã ra trinh diện. Họ được bọn chúng cấp giấy đã trình diện và có quyền đi lại trong khu vực, từng ngừoi một nhận giấy chứng nhận ra về, chẳng gặp trở ngại nào cả.

Giai đoạn II: Đợt trình diện lần thứ II

Lời kêu gọi trình diện và giao nạp vũ khí vẫn tiếp tục, những ngừoi còn trốn chưa ra trinh diện thấy những kẻ đã trình diện đợt I yên hàn vô sựtrở về nhà, lại còn được cấp giấy tự do đi lạin nên họ theo ra trinh diện và họ cũng đã được bọn chúngcấp cho một giấy như vậy và cũng đã được bọn chúng cho tự do yên ổn trở về nhà.

Giai Đọan III: Đợt trình diên lần thứ III

Những ngừoi còn nghi ngở lẫn trốn chưa ra trinh diện hai lần trước, nay thấy hai đợt trình diện vùa rồi mọi ngừoi đều được tư do ra về và con đưộc cấp giấy đi lại trong vùng, vì vậy họ không còn nghi ngờ gì nữa quyết định ra trình diện.

Cũng như hai đợt trước, họ được bọn chúng cấp giấy và tự do ra về…

Thế nhưng, tất cả đã lầm, tất cả đã lọt vào bẫy của bọn chúng …

Chỉ vài ngày sau, lực luơng an ninh, cơ sở nằm đi lục xét từng nhà và yêu cầu những ai đã đi trình diện trong ba đợt vừa rồi phải trình diệntại các địa đểm trong thành phố mà chúng đã ân định để học tập.

Tin tuởng như ba đợt trình diện vùa rồi, đi rồi lại về, mọi ngừoi kéo nhau đi…

Nhưng rồi, vợ con trông đợi, cha mẹ mong chờ. Đêm qua đêm, ngày qua ngà, tháng qua tháng, những ngừoi ra đi sẽ không bao giờ trở lại…Vinh viễn không trở lại, ngàn đời vĩnh biệt…

Tất cả đã chết, Tất cả đã bị chon sống, tất cả đã bị bọn Việt Cộng không dung sung đạn, mà dung vật cứng đánh vào đầu và lấp xuống hầm sâu hố cạn tại một vài nơi trong thành phố Huế và một số lớn tại các quận Huơng Trà, Phú Vang, Phú Thứ, Huơng Thủy, Nam Hòa v.v…

Tất cả nạn nhân Mậu Thân họ đã không may mắn được chết như Trịnh Công Sơn viết trong bài hát phản chiến: “Không hận thù nằm chết như mơ”, mà họ đã chết trong tư thế hai tay bị tróibằng đủ tất cả các loại dây, dây điện thọai, dây kẽm gai, bị nghẹt thở và chết trong nỗi hải hùng, uất hận tột độ.

Tôi chợt nhớ đến hai bài hát Trịnh Công Sơn viết về Mậu Thân, mà từ ngày nó ra đời sau tết Mậu Thân đến bây giờ, tôi vẫn băn khoăn không tài nào hiểu nỗi tại sao nội dung của nó lại có nhiều điều mâu thuẩn như vậy, hay là tôi không đủ thâm thúy để hiểu? Đó là bài “ Hát trên những xác người” và bài” Bài ca dành cho những xác người”..

Trong 2 bài hát nầy, Trinh Công Sơn không hề đá động gì đến thủ phạm đã gây ra cảnh tàn ác nầy, cũng như niềm đau của nó đốii với thân nhân ở lại, và hậu quả của nó đối với đất nuớc, đối với lịch sử.

Từ nhỏ chúng ta đếu được dạy câu” một con ngưa đau, cả tàu không ăn cỏ”, thì Trịnh Công Sơn lại thấy vui hiện tạivà những hứa hẹn trong tương lai qua hai bài hát về Mậu Thân như sau:

“ Mẹ vỗ tay reo mừng xác con”

“Mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh”

“Chị vỗ tay hoan hô hòa bình”

Mẹ reo mừng xác con? Thật vậy sao? Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn!

Là phó Trưởng Ty CSĐB có mặt trong cuộc chiến Mậu Thân1968 và sau đó chỉ huy công tác điều tra tội ác giết ngừoi của Cộng Sản lúc bấy giờ, tôi chỉ thấy toan những ngừoi mẹ già, trẻ, gào thét ngất lịm bên xác con, chồng, thân nhân, trong không gian u ám, chết choc kinh hoàng của Huế, Mậu Thân 1968.

Trịng Công Sơn ông ta đã chứng kiến Cả trời, cả đất cả người xứ Huế sụt sùi trong bi thảm như sau:

“ Chiều đi lên đồi cao, hát trên những xác người, tôi đã thấy,trên con đường, người ta bồng bế nhau chạy trốn,..Chiều đi qua Bãi Dâu hát trên những xác người tôi đã thấy những hố hầm đã chôn vùi thân xác anh em”

Và rồi nữa:

“Xác người nằm trôi sông,phơi trên ruộng đồng, trên nóc nhà thành phố, trên những đường quanh co…Xác người nằm quanh đây, trong mưa lạnh nầy, bên xác người già yếu , có xác còn ngây thơ. Xác nào là em tôi dưới hố hầm nầy, trong những vùng lưa cháy, bên những vồng ngô khoai. Xác người nằm bên nhau, treo trên gầm cầu, trong góc nhà đổ nát, dưới những hào thông sâu. Xác người còn xương khô, trong khắp bụi bờ, sau những hè phố vắng, trên dốc đường mấp mô…”

Trịnh công Sơn đã ghi nhận cảnh tượng Mậu Thân tại Huế một cách chính xác, nhưng cảm xúc của cá nhân ông trước tai họa nầy lại là điều tôi mãi mãi băn khoăn thắc mắc: Những chết chóc gây ra bởi Cộng Sản tại Huế là tiền đề cho mùa xuân? Để nuôi thơm và thêm hơi cho đất? cho mạ tươi reo vui? Theo ông cái chết của đồng bào Huế ngày nào đó là những hy sinh cho mai hậu? cho đường đi tới? cho tương lai? Tương lai nào đây? Tuơng lai sông với Cộng Sản chũ nghĩa, thế giới đại đồng? Hả ông Trịnh Công Sơn?

Không thể chấp nhận rằng cái chết của những ngưởi dân vô tội bởi bàn tay Cộng Sản trong tết Mậu Thân 1968 là những hy sinh để cho đất nước có được tương lai tươi sáng, như nội dung bài hát của ông. Điều nầy cũng chẳng khac nào bọn Cộng Sản nói rằng, những cái chết của những thanh niên miền Bắc theo lệnh Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản vào miền Nam là những hy sinh cho đất nước. Thực chất đó là những cái chết oan khiên, bị lừa bịp, chỉ nhằm đem lại quyền lực cho bọn mưu đồ tội ác, và bán nước.

Trịnh Công Sơn viết:

“Mùa xuân ơi, xác nuôi thơm cho đất ruộng cày, Việt Nam ơi, xac thêm hơi cho đất ngày mai, đường đi tới, dù chông gai đã có người.

Ngày mai đây xác lên cây trên khắp ruộng nầy, ngày mai đây, xác reo vui những khóm mạ tươi, đồng lúa mới, ngừoi ra đi, dựng tương lai, với tay đầy…”

Tôi suy nghĩ mãi ngần ấy năm, vẫn không sao hiểu được. Hàng ngàn cái chết thê thảm như thế lại có thể làm niềm vui và tương lai đất nước? Làm sao có thể cắc nghĩa cho sự tương quan giữa cái chết thê thảm của tổng cộng 5327 nạn nhân và sự hoan tàn của Huế là tiền đề để họ Trịnh phấn khởi mai sau?

Ai có thề luận giải giùm?

Trong cái mớ tư tưởng lập lờ ám muội đó, tôi không rõ ông ta muốn nói ai, phía nào là phía “vỗ tay cho then thù hận”? phía nào là phía “vỗ tay xa dần ăn năn”? phải chăng với ngôn ngữ mập mờ nầy, ông muốn cùng phe với đám cộng sản Bắc Việt và cộng sản nằm vùng, bạn của ông như Nguyễn Đắc Xuân, anh em Hòang Phủ, Ngô Kha v.v… đổ tội cho VNCH chăng ? bởi vì chính cộng sản và đám nằm vùng ở Huế đã tỉnh bơ, bóp méo, cáo buộc vụ tàn sát dã man, tồi tệ nầy cho quân đội VNCH, cho bom đạn của Mỹ Ngụy. Tôi có lời khuyên với bọn cộng sản chính thống và bọn Việt Cộng đầy tớ nằm vùng ở Huế rằng, nếu có điêu ngoa, thì hãy điều ngoa như thế nầy mới là sư tổ: “ Các quân nhân VNCH đã đập đầu chôn sống đồng bào Huế.”

Thực tế, không ai khác hơn là đám VC nằm vùng của Trinh Công Sơn như: An hem Hòang Phủ, Nguyễn Đắc Xuân , Lê Khắc Cầm, Hòang văn Giàu, Tôn Thất dương Tiềm, Nguyễn Đóa, Nguyễn Thị Đoan Trinh v.v…là những thủ phạm trực tiếp nhúng tay vào máu đồng bào Huế. Nhưng điều đau long hơn nữa là sau biến cố thê thảm nầy, Trịnh Công Sơn vẫn tiếp tục giao du và nối giáo cho cộng sản.

Trịnh Công Sơn đã thóa mạ đời sống tại miền Nam là nghẹt thở và phi nghĩa, ước ao có ngày thấy được chủ nghĩa cộng sản hòan hảo trên quê hương qua lá thư Trinh gởi cho Ngô Kha, giao cho Nguyễn Khắc Cầm đăng lén trên báo “Đứng Dậy” của cái gọi là “thành phần thứ ba”. Trịnh Công Sơn đã đau dớn thương tiếc tên VC nằm vùng bị mất tích Ngô Kha, nhưng số phận của 5327 thường dân vô tội bị bọn chúng thảm sát và 1200 ngừoi bị bọn chúng bắt đi mất tích trong Mậu Thân 1968 sao không thấy nói đến? Có chăng chi là điều Trịnh Công Sơn nói nguợc:” Mẹ vỗ tay reo mừng xác con”.

Tóm lại, câu hát “ người vỗ tay cho thêm hận thù, người vỗ tay xa dần ăn năn”, có lẽ ông muốn dành cho đối thủ của ông những ngừoi cầm súng chiến đấu chống lại các ông để bảo vệ dân lành, bảo vệ đất nước khỏi thảm họa Cộng Sản, chứ tôi không nghĩ rằng những câu hát đó ông dành cho các đồng chí của ông.

Cũng trong thời gian nầy, tại vùng Bến Ngự, Từ Đàm, Nam Giao, đại đa số dân chúng chạy ra khỏỉ nhà, đều bị Việt Cộng bắn chận đẩy lui, đành trốn tại nhà. Lực lượng an ninh của Tống Hoàng Nguyên, Bảy Lanh và đám cơ sở nằm vùng lục xét từng nhà một, bắt và dẫn đi một số người. Dân chúng đã nhận diện rõ những tên nằm vùng thật nguy hiểm như tên Nguyễn Tú một võ sư mọn phái Thiếu Lâm, nhà ở sát lăng vua Tự Đức, gần đồi Vọng Cảnh.

Tên thứ hai là Cửu Diên và con trai của y là một sĩ quan Thiếu úy QLVNCH đào ngũ theo VC truớc Tết Mậu Thân cả hai cha con tên nầy dều ở trong lực luợng của Bảy Lanh. Trong số những ngừoi bị hai tên Tú và Diên bắt dẫn đi có hai ông là Tôn Thất Hậu, Chũ tiện chụp hình Tự Do tại gần chùa Từ Đàm, và Ông Nguyễn văn Nhẫn chủ tiện hớt tóc cũng ở gần đó, Hai ông Tôn Thất Hậu, và Nguyễn văn Nhẫn là bạn rất thân của tên Cửu Diên và tên Tú vậy mà sau Mậu Thân, thân nhân hai ông nầy đã tìm ra xác của hai ông bị chôn sống tại vùng chùa Từ Hiếu.

– Cũng tại vùng Từ Đàm, Bến Ngự, hai người cháu mội của Cụ Phan Bội Châu là Đại úy Quân Cảnh Tư Pháp Phan Thiện Cầu, và Phan Thiện Tuờng cũng bị bọn chúng chôn sống. Oái ăm thay trong khi đó anh ruột của Đại úy Phan thiện Cầu và Phan Thiện Tường là Đại Tá Việt Cộng Phan Thiện Cơ đang là Tư Lệnh mặt trân ở Tây Nguyên.

Đại Tá VC Phan Thiện Cơ, Ông nghĩ gì khi các đồng chí của ông bắt hai ngừoi em của ông đem đi chôn sống? Hay đó cũng là những thưởng tình trong phong tục tập quán văn hóa của đảng? Ông noi gương của đồng chí Trường Chinh? Dưới ánh sáng soi đường của đảng , thì cha mẹ còn chưa kể , xá gì anh em phải không ông?

Năm 1973 đại tá Phan thiện Cơ là thành viên trong ủy ban kiễn sóat đình chiến tại Tân Sơn Nhất, Saigòn.

– Cũng tại vùng Từ Đàm, Ông Võ Thanh Minh một trong những huynh trưởng Huớng Đạo kỳ cựu, ngừoi mà vào năm 1954 dã dưng lều bên hồ Geneve ngồi thổi sáo phản đối hiệp định chia đôi dất nuớc cũng bị Việt Cộng bắt dẫn đi chôn sống.

– Tại vùng gần chùa Tuờng Vân, Ông Lê Hữu Bôi chũ tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn, là sinh viên Học Viện Quốc Gia Hành Chánh ra ăn Tết ở Huế cũng bị Việt Cộng bắt đi chôn sống vì nghi ông Bôi làm cho CIA.

– Tại vùng Cầu Lòn, Thầy Lê văn Thi nguyên giáo sư Quốc Học, sau đó du học Mỹ, dâu PhD về nguyên tử lực về nuớc phục vụ tại lò nguyên tử Đà Lạt, ra Huế ăn Tết bị VC bắt đi chôn sống vì tội là chuyên viên nguyên tử, khi bọn chúng bắt thầy Thi, phụ thân của thầy can thiệp cũng bị bọn chúng bắt luôn, sau đó gia đình đã tìm ra xác của thầy và ông cụ bị chôn sống gần xã Thủy Xuân.

Tóm lại, tại vùng Bến Ngự, Từ Đam, Trường Cửi, Nam Giao, Thủy Xuân, Lịch Đợi, Cầu Lòn số nạn nhân bị chôn sống khỏang hơn 200 ngừoi.

– Tại nhà thờ Phủ Cam, sau một thời gian vây kín làng Phủ Cam, cuối cùng bọn VC tấn công và xông thẳng vào nhà thờ, bắt đi khoảng 300 thanh niên, dẫn lên giam giữ tại Chùa Từ Đàm. Mãi đến ngày 19 tháng 9 năm 1969 lực luợng hành quân của QLVNCH dã phát giác ra được 428 xác chết tại khe Đá Mài và vùng lân cận, trong đó, sau khi xác nhận, chứng thật có 300 xác của 300 thanh niên Phủ Cam đã bị VC bắt và dẫn đi.

– Tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, gần khu An Cựu thuộc Quân III thị xã Huế có khỏang trên 500 đồng bào đang lánh nạn tại đó. Các đơn vị an ninh của đại tá Công An Bảy Lanh, các cở sở nằm vùng nhu cha con ông Thiên Tuờng, đoàn viên tự vệ khu phố của Nguyễn Đác Xuân tràn vào khu nhà thờ thanh lọc đồng bào, bắt và dẫn đi khỏang 300 ngừoi, trong đó có Thượng Nghị sĩ Trần Điền.

300 ngừoi bị bắt nầy đã không bao giờ trở về với gia đình tất cả đã bị chon sống tại vùng Lăng Xã Bàu, Lăng Xá Cồn thuộc quận Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên, trong đó có Thượng Nghị Sĩ Trần Điền.

– Trường trung học Thiên Hựu là nơi VC đặc bộ chỉ hụy nhẹ của Mặt trận cánh Nam do Đại Tá VC Thân Trọng Một chỉ huy, nơi đây cũng là chỗ Đại Tá Công An Việt Cộng dùng làm nơi giam giữ những nhân vật cao cấp hành chánh, quân sự của chính phủ VNCH mà bọn chúng bắt được. Điển Hình là Ông Bảo Lộc, Phó Tỉnh Trưởng Tỉnh Thừa Thiên bị gian giữ tại đây trước khi đưa ra Bắc.

Tại Quận II trong những ngày đầu của “bạo lực cách mạng” khởi đi từ ngày mồng ba Tết, nhằm ngày 2 tháng 1 năm 1968, một số viên chức Quân, Cán, Chính của chính phủ VNCH đã bị các Đội Tự Vệ khu phố cuỉa Nguyễn Đắc Xuân và tên thợ nề Nguyễn Bé Chũ tịch khu phố Chính quyền Cách mạng mới thành lập lùng bắt tại nhà, họ bị bọn chúng hành hạ đanh đập và cuối cùng bị xử bắn. Danh sách quá dài, nếu viết ra cũng vài trăm ngừoi, chỉ xin nêu một vài trường hợp điển hình như:

– Thiếu tá Từ Tôn Kháng, Tỉnh đòan Trưởng Xây Dựng Nông Thôn.

– Ông Trần văn Cư, Phó giám Đốc Nha CSQG Vùng I

– Ông Lê văn Phú Quận Trưởng Quận II.

– Ông Trần văn Nớp, nguyên trưởng ban Nhân viên Bộ Chỉ Huy CSQG/Thưa Thiên-Huế.

– Chồng bà chủ quán bún bò Mụ Rớt

– 13 nhân viên Cảnh Sát bị bắt tại nhà thuộc khu vực Quận II, tất cả đều bị xử bắn.

Bà Lê Thị Trâm ở đường Mạc Đỉnh Chi bị ngừoi tớ gái là đòan viên trong đội tự vệ của Nguyễn Đắc Xuân bắn ngay tại nhà vì tư thù.

Cũng cần nhắc lại ba vụ giết ngừoi tàn bạo và tán tận lương tâm nhất do Nguyễn Đắc Xuân, Tôn Thất Duơng Tiềm, Hòang văn Giàu thực hiện tại quận I, và Vụ Tòa án Nhân Dân tại truờng Gia Hội thuộc Quận II do Hoang Phủ Ngọc Tuờng ngồi ghế chủ tịch phiên tòa, và bốn bác sĩ người Đức Giáo sư Trương Đại học Y Khoa Hế bị sinh viên Y khoa Hoàng Phủ Ngọc Phan bắt và sau đó bị bọn chúng chôn sống gần chùa Tường Vân .

1- Nguyễn Đắc Xuân xử bắn Trần Mậu Tý.

Rạng sáng ngày mồng hai Tết, tại khu vực của Đông Ba thuộc Quân I thị xã Huế, đôi An Ninh và tự Vê của Nguyễn Đắc Xuân đã dẫn 6 nạn nhân ra đứng sắp hang ngang úp mặt vào tường tại thượng thành ngay cửa Đông Ba. Nhiều nhân chúng đã kể lại rằng họ nhận diện được 2 nạn nhân trong 6 ngừoi nầy là:

– Ông chồng bà Nội thuơng gia, chũ tiệm xe đạp tại gần cuối đường Phan Bội Châu.

– Sinh viên Trần Mậu Tý.

Nhiều nhân chúng cũng đã nhận diện được ngoài tiểu đội VC có mặt tại hiện trường còn có Nguyễn Đắc Xuân, Giáo sư Tôn Thất Duơng Tiềm, Giáo sư Hoàng Văn Giàu.

Chính Nguyễn Đắc Xuân đã đích thân xử bắn Trần Mậu Tý, và giáo sư Tôn Thất Dương Tiền ra lệnh cho Tiểu đội VC xử bắn 5 nạn nhân kia.

Vậy Trần Mậu Tý là ai mà Nguyễn Đắc Xuân Đích thân xử bắn?

Trần Mậu Tý là nhân viên tình báo của Ty CSQG/Thừa Thiên-Huế. Họat động trong lòng địch. Anh cũng là đảng viên đảng Đại Việt.

Trong suốt thời gian cuộc tranh đấu 1966, Trần Mậu Tý còn là sinh viên Đại học Huế, và khi Nguyễn Đắc Xuân theo lệnh Trí Quang và Trung Tá VC Hòang Kim Loan thành lập 3 đại Đội Sinh Viên Quyết Tử thì Trần Mậu Tý là một trong 3 đại đội Trưởng đại đội Quyết Tử. Trần Mậu Tý và Nguyễn Đắc Xuân là đôi bạn thân. Trần Mậu Tý cũng đã từng giúp Nguyễn đắc Xuân thóat hiểm, khỏi bị chúng tôi bắt khi Nguyễn Đắc Xuân đang trốn tại chùa Tường Vân đợi giao liên VC đưa lên mật Khu vào tháng 7/1966.

Có lẽ sau nầy Trần Mậu Tý vì bất cẩn đã để lộ là nhân viên tình báo và ngoài ra cũng có thể lộ là đảng viên đảng Đại Việt, nên khi đột nhâp vào thành phố Nguyễn Đắc Xuân quyết tìm bắt cho được Trần Mậu Tý và thẳng tay bóp cò súng Ak 47 vào ngừoi Trần Mậu Tý. Trần Mậu Tý đã nhận lãnh cái chết thê thảm từ chính ngừoi bạn thân Nguyễn Đắc Xuân, ngừoi mà Tý đã mặng tình cảm giúp bạn thóat thân, nay trở về giết Tý. Câu nói “ Cứu vật, vật trả ơn, cứu nhơn, nhơn trả oán” quả không sai khi áp dụng cho bọn cộng sản.

Một nén hương lòng cho chiến hữu Trần Mậu Tý , một nhân viên tình báo của ty CSQG/Thừa Thiên Huế đã bỏ mình vì tận tụy với chính nghĩa quốc gia, với đồng bào và xứ Huế.

Xin được vinh danh anh, cho dù đã quá trể. Bốn mươi hai năm rồi Tý!

2- Giáo Sư Hoàng Phủ Ngọc Tường Chủ Tịch Tòa Án Nhân dân tại truờng Gia Hội Quận II thị xã Huế

Trong những ngày đầu chiếm Huế, Tống Hòang Nguyên trưởng Ban An Ninh Khu ủy Trị Thiên, cùng hai thành ủy viên Thành ủy Huế là Hòang Kim Loan, Hòang Lanh thiết lập Tòa Án Nhân Dân đầu tiên tại trường học Gia Hội thuộc Quận II thị xã Huế.

Ông Quan Tòa là Giáo sư Hoàng Phủ Ngọc Tường, hiện diện có Nguyễn Đắc Xuân Trưởng Đòan An Ninh Bảo Vệ Khu Phố, Hòang Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Thiết chũ tịch Ủy Ban Nhân Dân Quận II, Nguyễn Bé Chủ Tịch khu phố, và đằng sau là Hoàng Lanh và Hoàng Kim Loan tham dự.

Nạn nhân thuộc thành phần Công chức, Quân Nhân, Cảnh Sát, trốn tại nhà, bị bắt. Những người nầy bị ông tòa Hoàng Phủ Ngọc Tường xếp họ vào lọai ác ôn.

Một số khác là cô nhi quả phụ, vợ con của anh em quân nhân, Cảnh sát, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, cán bộ Xây dựng Nông Thôn đã tử trận. Tất cả những ngừoi nghèo khổ nầy, đi làm tạp dịch như dọn dẹp phòng ngủ, giặt quần áo v.v…cho lính Mỹ tại căn cứ Dạ Lê, Phú Bài hoặc ở cơ quan MAC-V kiềm sống, nuôi con nuôi cháu, số ngừoi nầy được ông tòa Hòang Phủ Ngọc Tường xếp vào lọai làm việc chi tình báo Mỹ, CIA.

Với những tội danh nêu trên, tất cả phải bị nhân dân anh hùng Thừa Thiên-Huế và Chính quyền Cách mạng trừng phạt đích đáng để làm gương bằng bản án tử hình …

Kết quả có 204 nạn nhân lãnh bản án tử hình, và tất cả bị chôn sống ngay tại chỗ, trong khuôn viên truờng Gia Hội.

Tháng 5/1972 khi bắt được Trung Tá VC Hòang Kim Loan đích thân tôi thẩm vấn y và hỏi rất kỷ về tòa an Nhân Dân tại truờng Gia Hội Quân II thị Xã Huế, thì Trung Tá VC Hòang Kim Loan khai như sau:

“Tống Hoàng Nguyên , Hoàng Lanh và tôi hội ý với nhau. Lúc đầu có ý đinh đưa Nguyễn Đắc Xuân, nhưng sau đó chúng tôi chọn Hoàng Phủ Ngọc Tường, bởi lẽ vào thời điểnm đó, Hoàng Phủ Ngọc Tường đang giữ chức Tổng Thư Ký Lực Lượng Liên Minh, Dân Chủ Dân Tộc Hòa Bình. Đây là một lực lượng kết hợp các thành phần trí thức, tôn giáo, những lực lượng và cá nhân nhũng nhân vật có uy tín tại Huế đứng lên chống Thiệu Kỳ, chống Mỹ. Vậy tòa án Nhân Dân giao cho Tổng thư ký của lực lượng nầy đại diện dân chúng Huế ngồi xử các tên ác ôn, các tên tay sai của Thiệu-Kỳ và của Mỹ là thích hợp và thuận lòng dân.”

3- Hòang Phủ Ngọc Phan bắt và sát hại bốn giáo sư Y khoa ngừoi Đức thầy của Phan, và bắn chết 3 ngừoi bạn sinh viên y khoa.

Theo chương trình trợ giúp của chính Phủ Cộng Hòa Liên Ban Đức với truờng Đại Học Y Khoa Huế, bốn vị bác sĩ ngừoi Đức có tên là:

Bác Sĩ Raimund Discher.

Bác Sĩ Hort Gunther Kranick và vợ

Bác sĩ Slois Alterkoster.

Họ đến Huế giảng dậy tại trường Đại Học Y khoa Huế, đông thới còn làm việc tại Bệnh Viên Trung ương Huế, họ là ân nhân của hằng ngàn bênh nhân ngừoi Huế. Vậy mà những ngày đầu chiếm Huế, nhiều nhân chứng đã thấy rõ Hòang Phủ Ngọc Phan đi cùng toán An Ninh Thành đến vây bắt 4 vị thầy của mình, và sau đó tham dự vào cuộc chôn sống bốn vị bác sĩ nầy tại vùng gần chùa Tường Vân.

Ngoài ra khi chiếm và lục sóat, đập phá một số phòng ốc và dụng cụ của truờng Đại Học Y khoa, Hòang Phủ Ngọc Phan dã bắt gặp một ngừoi bạn học của y đang lẫn trốn với ngừoi em gái trong đó, Phan dem ngừoi bạn nầy ra bắn ngay truớc sự chứng kiến kinh hòan của ngừoi em gái. Hoang Phủ Ngọc Phan bắn Sinh viên nầy vì tình nghi anh ta làm cho tình báo CIA. Sau đó Hoàng phủ Ngọc Phan bắt cô gái dẫn về nhà của cô ta để tìm kiếm thêm hai ngừoi anh của cô ta ở đường Hàm Nghi thuộc quận III thị xã Huế.

Khi Hòang Phủ Ngọc Phan và toan VC An Ninh Thành ập vào nhà của cô ta, hai ngừơi anh của cô ta đang trốn trên gát. Những lọat đạn AK 47 của đám An ninh VC và của Hòang Phủ Ngọc Phan đã đốn ngã hai thân xác từ trên gát rơi xuống nền nhà. Mọi ngừoi trong gia đình kinh hòang la hét…Ông Cụ nội của cô ta đã uầt hận mất bình tỉnh chửoi Hoang Phủ Ngọc Phan nặng lời, nên đã bị Phan bắn một lọat AK vào ngừoi, ông Cụ ngã xuống chết tại chỗ. Cô gái đó nay là một thiếu phụ và cách đây gần một năm đã kể lại với tôi câu chuyện dau thuơng nầy bằng một giọng nói đầy đau buồn:

“ Ông biết không…chứng kiến cảnh ba ngừoi anh ruột và ông nội bị bắm chết truớc mắt mình, tôi xin lỗi ông dã phải nói như thế nầy: Khi đó tôi quá sợ đã đi tiểu và đi tiêu trong quân hồi nào mà không hay.

Mẹ tôi đã diên lọan , mất trí gần một năm sau đó, tôi cũng vậy”.Thiếu phụ đó đã viết bản trường thuật đầy đử sự việc trên cho tôi, và bà ta bằng lòng đứng ra tố giác và làm nhân chứng vụ nầy một khi vụ nầy được đưa ra truớc Tòa An Hình Sự Quốc Tế.

Vì lý do an ninh của bà ta và gia đình, tôi tkhông thể tiết lộ danh tánh và nơi cụ ngụ của bà ta, chỉ có thể nói rằng, bà ta hiện đang định cư tại Hoa kỳ và sẵn sảng phối họp với chúng ta đứng ra truy tố tên sát nhân Hòang Phủ Ngọc Phan ra Tòa án Hình Sự Quốc Tế về tội dịêt chủng.

Tóm lại Ông Hồ Chí Minh, Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam và những kẻ nội thù, những tên VC nằm vùng, đã là những tên đồ tể, những kẻ giết hại dân Huế không nương tay trong những ngày đầu xuân Mậu Thân 1968 tại Huế.

Huế trong 624 giờ kinh hoàng, Huế trong địa ngục có thật, địa ngục trần gian.

Huế trong 624 giờ đã có 5327 thường dân vô tội bị Việt Cộng sát hại và 1200 người bị bọn chúng bắt đi mất tích. Đây là một cuộc tàn sát đồng lọai dã man tàn bạo chưa từng có trong lịch sử Việt Nam.

Ngoài số 5327 thường dân vô tội Huế bị sát hại, con có một số viên chức quân, cán, chính, các vị tu sĩ và một số nhân viên ngọai quốc đã bị VC sát hại được liệt kê như sau:

1- Ô. Trần Đình Thương Phó thị Trưởng thị xã Huế bị bắn ngy truớc tư gia.

2- Thượng Nghị Sĩ Trần Điền bị bắt tại dong Chúa Cứu Thế, sau nầy tin rat hi hài tai Lăng Xá Bàu.

3- Ô. Bửu Lộc bị bắt và dẫn ra Bắc

4- THiếu tá Từ Tôn Kháng, Tỉnh Đoan Trưởng Tỉnh Đoan Xây Dưng Nông Thôn bị bắn chết tại tư gia.

5- Nguyễn văn Cư, Phó Giam Dốc CSQG/VungI bị bắn chết tại tư gia

6- Lê văn Phú, Quân Truởng Quân II bị bắn chết tai tư gia.

7- Trân văn Nớp , trưởng ban Nhân Viên BCH/CSQG/THưa Thiên-Huế, bị bắn chết gần tư gia.

8- Ong Nguyễn Văn Đãi, Phụ tá Đại Biểu Chính phủ, bị bắt đưa ra Bắc.

9- Ông Nguyễn Khoa Hòang, chánh án Tòa Thượng Thẩm Huếcùng ngừoi con trai bị bắn chết tại tư gia.

10-Thiếu tá Bửu Thạnh, Ủy viên tòa án Quân Sự mặt trậnbị bắt và bị bắn chế

11- Chuyên viên nguyên tử lực giáo Sư Lê văn Thi và phụ thân bị bắt và bị chon sống gần xã Thủy Xụân.

12- Bốn vị giáo sư đai học Y Khoa ngừoi Đức Tình nguyện giảng dạy tại truờng Đại Học Y khoa Huế bị bắt và bị chon sống:

Bác Sĩ Raimund Discher

Bac Sĩ Hort Gunther Kranickvà bà vợ

Bác Sĩ Slois Alterkoster

Ngoài việc giảng dạy tại Đại Học Y Khoa HUế, b1n vị bác sĩ nầy đã làm việc tại Bệnh viện Trung Ưởng Huế, cứ song rất nhiều bênh nhân.

13- Linh Mục Dom Roman Guillaurn bị bắn chế ngay tại dòng tu Thiên An.

14- Linh mục Urban và Gay thuộc Dòng tu Thiên An cũng bị bọn chúng bắt đi, sau đó tìm được xac của họ gần lăng Vua Đồng Khánh.

15- Linh mục Bửu Đồng bị bắt và sau đó tim được xác tại Phú Xuân.

Căn cứ theo bá cáo cửa lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Thùa Thiên và thị xã Huế có khỏang 19 địa điểm có mồ chôn tập thể ở một số quận tại tỉnh Thưa Thiên và 3 quận ở thanh phố Huế được liệt kê như sau:

1- Quận I:

Mồ chôn tập thể gần cửa Đông Ba.

2- QuậnII:

Trường học Gia Hội, Bãi Dâu, chùa Áo Vàng tức Tăng Quang Tự.

3- Quận III:

Sau lưng Tiểu Chủng viện

.

4- Quận Hương Thủy:

Cồn Hến, Lăng Xá Bàu, Xăng Xá Cồn, Nam giao, gần Chùa Tường Vân, cạnh lăng vua Tự Đức, lăng vua Đồng Khánh, cạnh lăng Đông Cung Thái Tử Nguyễn Phúc Cảnh, Chùa Từ Hiếu, Nhà máy nuớc Vạn Niên, đồi Quãng Tế, khu vực dong tu Thiên An, Lăng Vua Khải Định, Làng Châu Chữ

.

5- Quân Hương Trà:

Cầu An Ninh, trường tiểu học An Ninh Hạ, chợ Thông, trường Văn Chí.

6- Quân Phú Vang.

Vùng Tiên Nộn

7- Quận Phú Thứ:

Vùng Đồng Di, Tây Hồ.

8- Quận Nam Hòa :

Vùng Định Môn, Lăng Vua Gia Long, Khe Lụ, Khe Đá Mài.

Mỗi mồ chôn tập thể ít thì năm, mừoi, thi hài, nhiều thì vài trăm thi hài.

Có thể nói:

– Huế trứơc Mậu Thân 1968.

Dân chúng sửa sọan đón xuân trong niềm hân hoang của những ngày thành bình hưu chiến.

– Huế trong những ngày Tết Mậu Thân 1968

Dân chúng đón xuân trong kinh hoàng, trong máu và nuớc mắt, trong thây ngừoi và xác chết.

– Huế sau 26 ngày Tết Mậu Thân 1968

Dân chúnh Huế đón xuân trong hoang tàn, đỡ nát, trong tang tóc ngậm ngùi, trong chờ dợi mòn mõi ngừoi thân, những ngừoi dã bị VC bắt dẫn đi chưa trở về.

Nhưng rồi ngày tháng qua, họ chợt hiểu những ngừoi thân yêu của họ đã bị VC bắt đi sẽ vĩnh viễn không bao giờ trở lại, vì tất cả đã bị giết bằng cách chôn sống, bằng mã tấu, bằng vật cứng đập vào đầu và thân xác ngừoi thân bị vùi lấp dứoi hầm sâu, hố cạn, đó đây trên dồi núi vùng đất Thừa Thiên-Huế.

– Huế sau Mậu Thân 1968.

Huế với hằng ngàn cổ quan tài, với khăn tang áo chế đầy đường, dầy phố, Huế phủ kím một màu trắng tang tóc, một giải khăn tang trắng kéo dài từ thành phố lên tân Ba Đồn nơi an nghỉ tập thể của hằng ngàn dân lành vô tội.

Đã bốn mưoi mốt năm trôi qua, đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn lặng thinh, giấu nhẹm vụ tàn sát diệt chủng nầy. Những tội đồ, những tay sát thủ, những quỹ dữ nhúng tay vào máu dân lành vô tội tai Huế váo Mậu Thân 1968 vẫn trơ tráo chối tội sát nhân.

Vào ngày 1 tháng 2 năm 2008 , tức là ngày 25 tháng Chạp năm Đinh Hợi, 5 ngay nữa là Tết Mậu Tý, Trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam một cuộc mít-tinh diễn hành kỷ niệm 40 năm ”Chiến thắng Mậu Thân 1968” tại thành phố Sàigon. Nhiều cấp lãnh đạo cũ và mới của Trung Ương đảng Cộng Sản đều có mặt trong buổi lễ.

Trong khi bọn chúng đang làm lễ kỷ niệm “40 năm chiến thắng Mậu Thân”, thì tại Huế chắc hẳn, truớc 5327 bàn thờ vong linh dân lành vô tội đã bị bọn Cộng Sản thảm sát, thân nhân họ cũng đang âm thầm làm lễ. Đó là lễ tưởng niệm, lễ thuơng tiếc, lễ uất hận, lễ đau buồn. Thân nhân của những vong linh nầy đang nuốt nước mắt cho sự oan khiên phẩn nộ thấu trời.

Lễ nào cũng gọi là lễ, nhưng có những buổi lễ trái với đạo làm người, trái với luân thường đạo lý. Đó là lễ hội ăn mừng Mậu Thân của Cộng Sản, Chúng ăn mừng vì đã phả hủy đươc cố đô Huế, nơi di tịch lịch sử của một triều đại, chúng ăm mừng chiến thắng Mậu Thân 1968 vì đã giết được 5327 thường dân vô tội và bắt đi mất tích vĩnh viễn 1200 thường dân vô tội khác.

Câu hỏi được đặt ra:

Ai đã ra lệnh, ai thi hành, ai chịu trách nhiệm vụ tàn sát dân Huế trong Mậu Thân năm 1968?

Bộ chính trị đảng Công Sản Việt Nam vẫn giữ im lặng như họ đã từng giữ im lặng trong các tội ác cũ của họ như Cải Cách Ruộng Đất, Nhân Văn Giai Phẩm, Xét Lại Chống Đảng v.v…

– Cựu Đại Tá Cộng Sản Bùi Tín, hiện đang sống tại Pháp, một đảng viên Cộng Sản lâu đời, đã gián tiếp trả lời giúp cho Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam bằng cách tráo trở, đổi trắng thay đen rằng:

“ Khi mở cuộc tiến công vào Huế, bộ đội miền Bắc đã cơ bản chiếm được thanh phố Huế, vào đêm mồng 4 tháng 2, ngay lúc ấy đã có 5 ngàn Sĩ Quan, quân nhân đủ lọai ra trình diện.

Trong bản quy định kỷ luật chiến trường có ghi:

Không được đánh đập tù binh, chỉ có các cán bộ chỉ huy và chuyên môn mới được hỏi cung tù binh…

Kiểm tra lại thì không một ai, không một cấp nào ra lệnh thủ tiêu tù binh cả.”

Miệng lưỡi những tên Cộng Sản lưu manh từ xưa đến nay vẫn như vậy. Thực tế không hề có chuyện 5 ngàn sĩ quan, quân nhân đủ lọai ra trinh diện các đồng chí của ông Bùi Tín trong đêm 4 tháng 2 năm 1968. Đó là chuyện bịa đặt láa khoét.

Thực tế chỉ có 5327 thường dân Huề vô tội, vì tin lời dụ dỗ của bọn chúng ra tình diện trong thời gian 22 ngày chiếm Huế đã bị các đống chí của Ông Bùi Tín bắt, giết. Họ không nặc quân phục, cũng chẳng cầm súng chiến đấu tại mặt trận thì tại sao có thể gọi là tù binh, và cũng chẳng phải là hàng binh.

Con số 5327 thường dân vô tội bị giết là tù dân sự, một số bị bắn chết tai nhà, tại thành phố, số lớn còn lại bị các đồng chí của ông Bùi Tín hạ sát truớc khi thua trận tháo chạy. Thậm chí Bùi Tín còn nói nhữing ngừoi bị sát hại là do bom đạn của Mỹ và VNCH.

Xin hỏi Bùi Tín bom đạn nào của Mỹ của VNCh khi 5327 nạn nhân bị chết một số bị chết vì ngột thở bị chôn sống dứoi hầm sâu hố cạn, một số khác chết vì bị vật cứng đập vào đầu bể sọ?

Bùi Tín đã xuuyên tạc sự thật để chạy tội sát nhân, diệt chủng cho Hồ Chí Minh, cho đảng Cộng Sản Việt Nam, liệu ông có làm được điều nầy với lịch sử? hay hành động đó chỉ làm mọi người thấy rõ thêm bộ mặt tráo trở của ông mà thôi.

Tôi xin gởi tặng ông và bất cứ những ai cố tình bóp méo, bưng bít, che đậy tội ác của bọn cọng Sản Việt Nam qua nấy câu thơ đầy sắc máu của Tố Hữu, một đồng chí thân thiết của ông:

Giết giết nữa bàn tay không phút nghĩ

Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế nau xong

Cho đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng,

Thờ Mao Chủ Tịch, thờ Xít ta Lin bất diệt.

– Nguyễn Đắc Xuân tên đại dồ tể sắt máu, giết người không góm tay cũng đã chối tội, “ Ngay khi trân đánh bắt đầu, tôi ở tuyến đàu của Bộ Chỉ huy Cánh Bắc. Vài ngày sau lui về phía sau lo cho thuơng binh”.

Như vậy cuộc tàn sát dân lành vô tôi tại Huế trong suốt 22 ngày Nguyễn Đắc Xuân không nhúng tay vào? Kẻ nào đó đã giả dạng Nguyễn Đắc Xuân, một Nguyễn Đắc Xuân sắt máu, hận thù, vai mang AK47, lưng mang súng lục K54, rút súng bắn thường dân, ngụy quân, ngụy quyền, công an, cảnh sát ngụy không chút nuơng tay không phải là Nguyễn Đắc Xuân mà là kẻ nào đó dã giả dạng? Kẻ đó hẳn cũng đã giả dạng Nguyễn Đắc Xuân bắn chết Trần Mậu Tý ngừoi bạn chí thân của Nguyễn Đắc Xuân, chứ không phải là ông. Kẽ nào đó đã giả dạng Nguyễn Đắc Xuân sáng ngày mồng hai Tết đi kêu gọi đồng bào Huế trong Quận I và Quân II hãy treo cờ Lực Lượng Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hòa Bình của Ông Thích Đôn Hậu lên, nếu không có thì lấy cờ Phất Giáo treo lên!

Âm mưu thâm độc định vu oan giá họa cho Phật Giáo cũng không phải là Nguyễn đắc Xuân mà là kẻ nào đó giả dạng Nguyễn Đắc Xuân?

Sau gần 42 năm, tuổi đời mỗi ngày mỗi nhiều, qua bao thăng trầm thay đổi của lịch sử sự thật đã rỏ rang, thì Nguyễn Đắc Xuân vẫn vậy. Vẫn giọng điệu sắt máu, vẫn lưu manh xảo quyệt điếm đàng hạ cấp. Một thay đổi độc nhất của Nguyễn Đắc Xuân là tự phong và hãnh diện cho mình là “Nhà Huế Học”. Nguyễn Đắc Xuân không còn hảnh diện “Nghề Việt Cộng nằm vùng” nữa sao? Mà lại chuyển thành nghế nhà “Nhà Huế Học”? Cái danh vị nầy nghe khá buồn cười , ngô nghê, và hợm hĩnh. Tất cả những gì Nguyễn Đắc Xuân viết về Huế, về triều đại nhà Nguyễn đều do một số tài liệu mà sau 1975 ông ta đã dung quyền hạn của tên sát nhân nằm vùng Mậu Thần Huế, cướp giựt tại một vài nơi trong đại nội, trong thư viện đem ra sao chép lại, rồi tự phong “Nhà Huế học” và nhà “Huế Học “ cũng không bao giờ đề cập đến Tết Mậu Thân 1968 và vụ thảm sát 5327 đồng bào Huế vô tội mà trong đó Nguyễn Đác Xuân đã là một trong những tên sát nhân của vụ tàn sát nầy. Như vậy có thể gọi là nhà “Huế Học” không? Viết về Huế mà không viết về Mậu Thân 1968 thì danh từ “Nhà Huế Học” nghe chừng như không ổn, có phải vậy không Ông Nguyễn Đắc Xuân?

Tôi xin mạn phép tặng ông thêm một tên mới có lẽ ông sẽ không thích, nhưng từ khi Ông Phạm Toàn nào thường viết trên các diễn đan Internet đặt cho Ông, và sau đó nhiều ngừoi ờ ngoại quốc đều theo Ông Phạm Tòan gọi ông là “Nhà Mậu Thân học”, là chính xác và đầy đủ ý nghĩa hơn cả!

Gần đây qua nhiều bài viết phụ họa cho Trần Kim Đoàn, người đã viết mấy câu thơ bất hủ về xứ Huế, xứ đã bị tàn sát bỡi bộ đội và nhóm nằm vùng như Nguyễn Đắc Xuân như sau:

Hai cụ già dắt nhau đi trên phố Huế

Vô tư tóc trắng da mồi

Gặp chị Bộ Đội và bà bán xôi

Cũng vô tư, da mồi, tóc trắng

Có lẽ ông ta muốn giúp Trần Kim Đòan gỡ rối? Trần Kim Đòan người Huế, viết về xứ Huế, đem lại hình ảnh chị Bộ Đội vô tư mà đặt vào. Còn lời lẽ nào để lăng mạ chà đạp nạn nhân Mậu Thân hơn lời lẽ “chị Bộ Đội vô tư “ trên phố Huế này? Nếu không ngoài bọn Cộng Sản, thì thật khó mà tưởng tượng nỗi có người huế lương thiện nào, lại có thể đem hình ảnh chị Bộ Đội “vô tư” vào trong thơ nói về Huế! Xứ sở đã từng điêu linh thống khổ, tang trắng ngút trời, mồ chôn tập thể dẫy đầy vì Bộ Đội cộng sản.

Có lẽ vì ơn nghĩa Trân Kim Đòan đã đón rước bao che, cho ăn ở và lăng xê tên đồ tể Mậu Thân ở một trường College bên Mỹ, nên, để phụ họa với Trần Kim Đòan, Nguyễn Đắc Xuân đã viết nguyên một bài về tôi, Liên Thành, tên trưởng ty Cảnh sát Mỹ Ngụy ác ôn, chặt đầu người kia , người nọ, như là chuyện liêu trai chí dị. Tôi có đọc rồi phì cười và không để ý nữa. Những điêu ngoa nầy không có gì mới mẽ trong văn hóa, văn chương và truyền thống của bọn cộng sản và bọn đầy tớ nằm vùng của chúng.

Cũng na ná điêu ngoa như vậy, chuyện ông “Nhiếp Chính Vương” Bửu Chánh sáng tác ra bản tuyên cáo khai trừ tôi ra khỏi Hòang Tộc vì vu cáo tôi viết BĐMT để phỉ bán Phật Giáo. Bản tuyên cáo khai trừ tôi, ngoài ông Bửu Chánh ngự ký còn tòan là quý ông Tây, bà Đầm ký vào, may mà họ khai trừ tôi, nếu không, tôi cũng phải chạy vắt chân lên cổ để mà tránh xa họ. Nhiều bạn bè bà con trong Hòang tộc yêu cầu tôi lên tiếng tôi cũng đã nói với họ:

“Tôi là Cháu nội của Đức Kỳ Ngoại Hầu Cuờng Để, huyết thống chính thống của Ngài Đông Cung Anh Duệ Hòang Thái Tử Nguyễn Phúc Cảnh, con trưởng của Vua Gia Long, chỉ khi nào Ngài Nhiếp Chánh Vương Bửu Chánh thay máu của Liên Thành được thì hãy ra thong báo khai trừ.”. Sao Ngài Bửu Chánh và Hội đồng Hòang Tộc của Ngài không ra tuyên cáo những kẻ mang danh Hòang Tộc mà họat động cho công sản như Tôn Nữ Thị Ninh và nhiều ngừoi nữa?

Cũng vậy, trường hợp nhà Mậu Thân Học Nguyễn Đắc Xuân, bạn bè và an hem cựu CSQG yêu cầu tôi phải viết bài vạch mặt Nguyễn Đắc Xuân,vì hắn là “tay điếm đàng, khóat lác, lưu manh trời sợ đất chê, ông để hắn ba hoa như vậy coi sao được” tôi đã trả lời với thân hữu, và chiến hữu CSQG như thế nầy:

“ Tôi, Liên Thành, với tư cách là môtb sĩ quan QLVNCH, một sĩ quan CSQG, với tư cách một CHT/CSQG Thừa Thiên-Huế tại sao lại đi đôi co với một tên Việt Cộng đầy tớ nằm vùng, với một tên sát nhân, với một tên tội đồ dân tộc?”

Điều tôi có thể làm là: Sau 1966 và Mậu Thân 1968, vì Nguyễn Đắc Xuân trốn chui trốn nhũi trên rừng, nếu hắn mò về đồng bằng mà tôi bắt được, tôi sẽ thiết lập hồ sơ truy tố hắn ra Tòa Án Quân Sự Mặt Trận về tội sát nhân, tội giết ngừoi hằng lọat với đầy đủ chứng cớ để có bản án đề nghị: Tư hình.

Còn bây giờ, tôi sẽ thu thập

gom hồ sơ, tin tức, chứng từ, lời tường thuật v.v.. của nhiều thân nhân nạn nhân bị y sát hại, để lôi y ra tòa án Hình sự Quốc tế về tội diết chủng. Đó là việc mà tôi và đồng bào Huế, thân nhân của những nạn nhận đã bị nguyễn Đắc Xuân sát hại trong Tết Mậu Thân 1968, chúng tôi phải làm và sẽ làm.

Nguyễn Đắc Xuân, một tên việt cộng nằm vùng, một kẻ sát nhân sắt máu giết hại dân Huế không chút nương tay, hắn hòan tòan không đử tư cách và không đuợc phép đứng truớc mặt tôi, một Sĩ Quan QLVNCH, một Chỉ Huy Trưởng CSQG/VNCH để nói một lòi nào cả. Hắn là tên tội phạm hắn phải trả lời truớc trước tòa án Hình Sự Quốc Tế về những bằng chứng tôi và đống bào Huế đưa ra về tội giệt chủng của hắn.

– Ông Hòang Phủ Ngọc Tường kẽ ngồi ghế chủ tịch Tòa An Nhân Dân tại Trừơng Gia Hội cũng đã chối tội rằng, khi trận dánh Huế xẫy ra Ông ta dang ở Bộ Chỉ Huy Cánh Bắc đóng tại khe Trái, chứ không có mặt tại Thành phố Huế.

Lời chối tội nầy mâu thuẩn với câu trả lời của ông ta khi một ký giả ngoại quốc hỏi ông về vụ giết ngừoi ở Huế mà ông đã nhúng tay vào:

“ cũng chẳng khác chi giết những con rắn độc”

Tôi đã chúng minh trong cuốn BĐMT bằng sự việc, bằng lời khai của nhiều nhân chúng Ông Hòang Phủ Ngọc Tuởng có mặt tại Huế ngay giờ đầu trân đánh, và ngồi ghế chũ tịch Tòa an Nhân dân tại truờng Gia Hội.

Hoàng Ngọc Phủ Phan còn tệ hại và mất tư cách hơn người anh của y, khi mà trong năm 2009 cách đây khỏang sáu tháng, Phan đã thề rằng sẽ tự sát nếu ai đưa ra được tấm hình y nhúng tay vào những vụ giết ngừoi ở Huế trong Mậu Thân 1968 giống như tấm hình mà phóng viên Eddie Adams chụp hình Tuớng Loan xử bắn đồng chí Bảy Lốp của y

Câu chuyện tấm hình Tướng Loan là một vấn đề công khai minh bạch, không có gì sai luật pháp thời chiến tranh, và Tướng Loan cũng chẳng them tịch thâu cái máy anh oan nghiệt đó. Bấy nhiêu cũng đủ chứng minh tư cách hiên ngang, quan minh chính đại của ông rồi. Điều đáng trách là chúng ta và Hoa Kỳ đã để cho bọn phản chiến thân cộng thành công trong việc tạo nên dư luận rùm beng bên vực một tên đặc công Việt Cộng họat động khủng bố, giết người man rợ. Giết hại nhiều gia đình, mà máu loan chảy từ trong nhà ra ngoài sân, từ trong lòng xe tăng ra đến ngoài, xác trẻ thơ, bà già vung vãi đó đây, tai sao những bức ảnh giết ngừoi tan bạo của Bảy Lốp lại không được phơi bày, không được tân dụng để trả lời cho bức ảnh của Eddie Adams? Bức hình của Adams gây thịêt hại cho cá nhân tướng Loan là chuyện nhỏ, điều đang trách là các vị lãnh đạo miền Nam bấy giờ đã không làm sáng tỏ dư luận và cũng không đứng trên dư luận được để miền Nam mất đi một vị Tướng đầy nhân cách, can đảm, rất cần cho quốc gia lúc bấy giờ, đó là chuyên lớn. Bức hình chỉ nói lên hậu quả mà không đề cập đến nguyên nhân, đã gây nhiều hối hận cho Eddie Adams, và Tướng Loan, một người rất bao dung, cũng đã tha thứ cho Adams. Lịch sử đã đứng về phía Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan, của VNCH.Còn an hem Hoàng Phủ, có tư cách gì mà đem tấm hình của Tướng Loan ra làm khuôn mẫu thách thức.

Bọn Cộng Sản trong Mậu Thân, dao găm mã tấu, lựu đạn AK chiếm thành phố Huế, giết người hàng loạt.Bác sĩ cứ người cũng là thầy học của chúng, chúng còn giết, huống hồ gì có ai, có phóng viênnào mà có thể an tòan tính mạng để chụp cảnh Hòang Phủ Ngọc Phan đang giết người?Hòang Phủ Ngọc Phan nói chuyện Phong thần hay chuyện liêu trai chí dị? Chuyện hài hước cho thiên hạ mua vui?

Hòang Phủ Ngọc Phan, nên yên chí, cơ quan tư Pháp của Chính Phủ Đức, Hoa kỳ, Cảnh Sát Hình Sự Quốc Tế họ có đầy đủ hình ảnh hồ sơ, tài liệu, ông khỏi thề làm chi.

Thư Ngỏ Kính Gởi Tất Cả Những Thân Nhân Của Các Nạn Nhân Trong Biến Cố Mậu Thân 1968 Tại Thửa Thiên –Huế

Hôm nay là ngày 19 tháng 1 năm 2010, chỉ còn khỏang ba mưoi ngày nữa Tết lại về trên quê huơng, xứ Huế. Hơn bốn mưoi hai [42] năm trôi qua vậy mà vết thương Mậu Thân 1968 vẫn còn rỉ máu, vẫn tái phát cơn đau mỗi độ xuân về. Làm sao nguôi được nỗi uất hận nầy trong lòng người dân sống Hương ngú Ngự? Khoi mà cộng sản và bọn bán mình cho quỷ đỏ vẫn còn ngồi trên quyền lực, tội ác vẫn không được phơi bày và trừng phạt?

Đảng Cộng Sản Việt Nam và lũ bất nhân nằm vùng tiếp tục che đậy tội ác bằng cách bóp méo sự thật. Sự thật lịch sử về cuộc tàn sát đồng bào Huế trong Mậu Thân 1968 cần được minh bạch và nhắc nhỡ muôn đời cho hậu thế với càng nhiều chi tiết tĩ mĩ càng tốt. Bơpỉ vì, sự thật man rợ đó đã bị Đảng Cộng Sản Việt Nam và những tên tôi đồ sát nhân nằm vùng ém nhẹm, chà đạp phỉ bán lên vong linh của những nạn nhân vô tội.

Là công dân Vịêt Nam chân chính, chúng ta cần phải nói lên, kêu gào lên nỗi đau nầy cho lịch sử, cho công luận và công lýcủa 5327 nạn nhân bị thảm sát và 1200 người bị mất tích trong Tết Mậu Thân 1968. Lịch sử cần được minh chứng rằng, Cộng Sản la thảm họa cho Việt Nam, là tội ác đối với dân tộc, mà tội ác do bọn chúng gây ra cho đồng bào Thừa THiên Huế trong Tết Mậu Thân 1968 là một bằng chứng cụ thể và rõ ràng nhất.

Với tư cách là một ngừoi dân Huế, với tư cách là một Phó Truởng Ty Cảnh Sát Đặc Biệt kiêm Quận Truởng Quận III thị Xã Huế, truớc, trong, và sau thời gian xẫy ra vụ tàn sát đẫm máu đồng bào Huế trong tết Mậu Thân 1968, sau đó giữ chức vụ Truởng Ty CSQG/Thừa Thiên-Huế, với tư cách là một chứng nhân và đại diện cho hơn 5 ngàn anh chị em CSQG/Thừa Thiên-Huế đã hết lòng tận tụy thi hành công tac điều tra về diễn tiến, chi tiết nạn nhân, sát nhân trong biến cố Mậu Thân 1968 tại Thừa Thiên- Huế trong su61t thời gian 1968-1975

Tôi, Liên Thành, cựu Thiếu Tá QLVNCH, cựu Chỉ Huy Truởng Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Thưa Thiên và Thị Xã Huế hiện đang thu thập tài liệu, tin tức, chúng từ, lời tuởng thuật của thân nhân 5327 nạn nhân vô tội bị thảm sát trong Tết Mậu Thân để truy tố Đảng Cộng San Việt Nam và những tên sát nhân đồng lõa vừa nêu trên ra trước ủy ban Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc va xin chuyển hồ sơ tội trạng truy tố đến Tòa Án Hình Sự Quốc Tế về tội diệt chủng.

Xin đồng bào Huế, thân nhân của 5327 nạn nhân bị sát hại, thân nhân của 1200 người đã bị mất tich, hãy giúp, phối hợp, cọng tác với chúng tôi, và các anh em trong lực lượng CSQG/Thừa Thiên-Huế, bằng cách gìn giữ và cung cấp cùng tin tức, lài liệu, chứng từ và lời tường thuật chính xác, về những gì liên quan đến vụ thảm sát đồng bào Huế trong Tết Mậu Thân.

Truy tố Đảng Cộng Sản Việt nam và đám sát nhân nầy ra trước tòa án Hình Sự Quốc Tế về tội diệt chủng chính là để lấy lại Công Bằng và Công Lý cho vong linh 5327 người vô tội bị thảnm sát và 1200 bị mất tích vào tết Mậu Thân 1968 tại Huế.

Xin liên lạc với chúng tôi qua địa chỉ e-mail sau:

Biendongmientrung@yahoo.com hay

nguyenphuclienthanh@gmail.com

Trân Trọng

Liên Thành

Cựu Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên Huế.

http://ghpgvntn-toiacphatgiaoanquang.blogspot.com/2010/01/lien-thanh-goi-than-nhan-cua-nhung-nan.html


Hue Massacre 1968

Jan 21 2010: Secretary of State Hillary Rodham Clinton gives a speech on Internet freedom at the Newseum in Washington DC

Jan 21 2010: Secretary of State Hillary Rodham Clinton gives a speech on Internet freedom at the Newseum in Washington DC

http://www.youtube.com/watch?v=ccGzOJHE1rw

http://www.youtube.com/user/statevideo

2010 Hillary Clinton Speaks at NUSEUM Single Internet Freedom Cyber-Freedom

2010 Hillary Clinton Speaks at NUSEUM Single Internet Freedom Cyber-Freedom

2010 Hillary Clinton Speaks about Shared Values and Visions for Our Humanity and our Collective Freedom at Nuseum Single Internet Freedom Cyber-Freedom Secretary Clinton announces bold initiatives to promote cyber-freedom; Says technology doesnt take sides for freedom and progress but the U.S. does and calls for a single internet

Secretary of State Hillary Rodham Clinton delivered remarks on internet freedom.

http://www.youtube.com/watch?v=-I2VUhHVToE

http://www.youtube.com/user/SBARTSTV

Tay sai suc vat ho chi minh suc vat trong phat giao an quang suc vat thich quang do suc vat vo van ai suc vat phan chien thoi cong hoa hay xem su dau tranh cua giao dan giao xu Dong Chiem Ha Noi

Dong Chiem Ha Noi Catholics beaten bloodily by Vietnamese Communist Animals

Tay sai suc vat ho chi minh suc vat trong phat giao an quang suc vat thich quang do suc vat vo van ai suc vat phan chien thoi cong hoa hay xem su dau tranh cua giao dan giao xu Dong Chiem Ha Noi

http://www.dailymotion.com/video/xby2qw_dong-chiem-catholics-beaten-bloodil_news

Nhà Báo Việt Thường góp ý về bài: “Cậu Ánh đi sứ” của tác giả Duyên Lãng Hà Tiến Nhất (Kỷ Nguyên 2000)

Nhà Báo Việt Thường góp ý về bài: “Cậu Ánh đi sứ” của tác giả Duyên Lãng Hà Tiến Nhất (Kỷ Nguyên 2000)

Nhà Báo Việt Thường trả lời câu hỏi của báo Sài-Gòn Nhỏ

nha-bao-viet-thuong-saigon-nho

Nhà Báo Việt Thường trả lời câu hỏi của báo Sài-Gòn Nhỏ

SG NHỎ:

– Người ta nói rằng để cho quan hệ hai nước bình thường, VN đã phải chịu nhượng bộ một số cơ bản với Trung Quốc. Những nhượng bộ đó là gì và vì sao VN lại chịu chấp nhận những nhượng bộ đó vào thời điểm đầu những năm 90?

NBVIỆT THƯỜNG:

– Về câu hỏi này thì tôi xin được trình bày: Không phải tận năm 90 mới có một số nhượng bộ cơ bản mà tôi đã trình bày. Ngay từ những năm 1951, khi mà tập đoàn việt gian cộng sản xuất hiện trở lại với danh xưng mới là đảng Lao Động Việt Nam. Trong điều lệ đảng của chúng (từ khóa 2 năm 1951, vì cần thiềt phải dựa vào sự trợ giúp của Trung cộng, nên Hồ cho ghi như sau:

“Đảng lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Marx, Engels, Lenin, Stalin và tư tưởng Mao trạch Đông kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam.” (Văn kiện đảng (việt gian cộng sản) toàn tập – tập 12 – trang 444)

Nhưng Hồ vẫn cho thòng thêm một câu (vì hắn là con đẻ của Nga-xô) mà chúng ta cần lưu ý như sau:

“Đảng Lao Động Việt Nam nhận định cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của phong trào hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa thế giới do Liên xô lãnh đạo.” (sách đã dẫn – trang 445)

và về đảng viên, Hồ cho ghi như sau:

“… đ) luôn luôn cố gắng nâng cao trình độc chính trị, trau dồi tư tưởng của mình bằng cách học tập chủ nghĩa Marx, Engels, Lenin, Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông” (sách đã dẫn – trang 447).

Chúng đã khẳng định lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm nền tảng cho mọi hành động, mọi đường lối chính sách của chúng. Cái đó là sự nhượng bộ quan trọng nhất rồi. Bởi đó là tính cách toàn diện trong sự nhượng bộ. Tức là bất kể cái gì cũng phải theo tư tưởng của Mao Trạch Đông. Đấy là điều chúng ta phải lưu ý. Điều thứ hai là cũng ngay sau đó thì chúng ta cũng biết rằng Trung Cộng và tiếp theo là Nga xô là hai nước đầu tiên công nhận tính hợp pháp của tập đoàn việt gian cộng sản và lập đại-sứ với chúng. La Quý Ba được cử làm đại-sứ đầu tiên và đồng thời cũng là cố vấn chính trị. Nhưng thật sự hắn là thái thú của Tàu cộng bành trướng bên cạnh tập đoàn Việt gian cộng sản. Hay nói cho đúng hơn thì La Qúy Ba là phó toàn quyền cũng được, còn toàn quyền là tên Lavritchev, giữ chức đại-sứ đầu tiên của Nga xô, bên cạnh tập đoàn việt gian cộng sản.

Cả hai tên này đã có thành tích chỉ đạo tập đoàn việt gian cộng sản hoàn thành sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân đỏ, cho nên khi về nước thì La Quý Ba được tiến cử là thứ trưởng bộ ngoại giao của Tàu cộng, còn Lavritchev cũng được đưa lên chức thứ trưởng ngoại giao Nga xô.

Như chúng tôi đã trình bày thì kể từ đó (1951), trong mọi lãnh vực chứ không phải chỉ là về đất đai sông biển, mà mọi hoạt động xã hội của VN (vùng do việt gian cộng sản tạm quản lý) thì mọi hoạt động cả vật chất lẫn tinh thần, từ tôn giáo cho đến giáo dục cho đến truyền thống dân tộc, truyền thống lịch sử, đều bị xóa bỏ để thay thế bằng những gì mà Tàu cộng và Nga xô chỉ đạo. Kể từ đó mọi hoạt động của cái gọi là chính phủ Việt Nam, với một số trí thức, đảng phái không cộng sản đã bị đàn áp, trở thành bù nhìn thì vẫn làm ra vẻ giương cao ngọn cờ chống thực dân Pháp giành độc lập dân tộc như cuối năm 1946 trở đi, thì thực tế đã biến thành mọi hoạt động chính trị quân sự chỉ có mục đích duy nhất là mở rộng thuộc địa đỏ cho Nga xô và Tàu cộng bằng xương máu của nhân dân Việt Nam. Cho nên ngay từ bấy giờ cái gọi là chính phủ Hồ chí Minh thực sự là công cụ của các mẫu quốc Nga xô và Tàu cộng, có nghĩa đó là một chính phủ việt gian. Kề từ đó cuộc chiến tranh thực tế là chiến tranh giành thuộc địa của Nga xô, Tàu cộng. Mục tiêu độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ cho VIệt Nam là hoàn toàn không còn nữa, kể từ lúc lực lượng quân sự, khởi đầu là sự hợp nhất các lực lượng quân đội của Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Cách, Việt Minh và của cả chính phủ Trần Trọng Kim, cộng với thanh niên Việt Nam xung phong ra nhập lực lượng quân sự theo lời kêu gọi của chính phủ kháng chiến chống Pháp (đa Đảng), từ cái tên Quân đội Quốc gia bị đổi tên thành quân đội nhân dân hay bộ đội cụ Hồ; và từ cái tôn chỉ “trung với nước, hiếu với dân” bị đổi thành “trung với đảng, hiếu với dân”. Như thế có nghĩa cái lực lượng đó chiến đấu không phải vì quốc gia dân tộc mà vì yêu cầu chính trị của đảng việt gian cộng sản. Cái mục tiêu chính trị đó là mục tiêu “thế giới đại đồng”. Có nghĩa là cái thế giới đó là của Nga xô, Tàu cộng và các thuộc địa và nô lệ đỏ.

Vế vấn đề này những ngòi bút phương Tây chỉ viết theo quan điểm chính trị của đảng phái họ, quyền lợi nước họ, cũng như cần phải thấy rằng có khi chính họ không nhìn ra vấn đề này vì họ chỉ là những kẻ cưỡi ngựa xem hoa, khả năng hạn chế, yếu kém đạo đức và lương tâm của người cầm bút. Nhưng vì họ có điều kiện quảng bá những sản phẩm của họ và được sự hỗ trợ của các thế lực chính trị hoặc tài phiệt sau lưng. Còn chúng ta, những người Việt Nam đa số hay còn mắc bệnh tôn sùng nước ngoài và cũng không có điều kiện để nghiên cứu và hiểu biết về một sự kiện lịch sử hoàn toàn khác lạ với không chỉ lịch sử của dân tộc Việt Nam, mà của cả thế giới nói chung. Cho nên chưa nhận thấy được Nga xô mượn chủ nghĩa Marx để che đậy bộ mặt thực dân đỏ và Tàu cộng mặc cái áo chủ nghĩa Marx để che đậy tư tưởng bành trướng đại Hán, vốn là tư tưởng tồn tại cả ngàn năm của nước Tàu. Còn việt gian cộng sản dùng chủ nghĩa Marx để che đậy bộ mặt bán nước cho các thực dân đỏ một cách rất tự nguyện.

Tất cả ngôn ngữ của cái gọi là “cách mạng” chỉ là che đậy sự thực lịch sử và đưa quần chúng nhân dân đi vào chỗ mơ hồ.

Ngay từ cuộc chiến ở biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn năm 1950, trên thực tế Tàu cộng đã nắm quyền chỉ đạo, về quân sự, về đào tạo giáo dục (cho mở khu học xá cho người Việt ở Nam Ninh và cũng đào tạo về quân sự về chính trị cho việt gian cộng sản) và cũng từ đó, dựa vào Tàu cộng, Hồ mới cho tái xuất đảng việt gian cộng sản mà chúng đã tự giải tán từ sau tháng 8 năm 1945, để đánh lừa các đảng phái theo tôn chỉ quốc gia dân tộc và toàn dân Việt Nam. Tàu cộng sử dụng đảng việt gian cộng sản trong danh xưng mới là đảng Lao Động Việt Nam để che mắt nhân dân thế giới, chứ còn các đảng phái chính trị trên thế giới thì họ cũng chẳng lạ gì. Tiếp theo đó cũng là Tàu cộng chỉ đạo với sự thôi thúc của Nga sô, Hồ chí Minh và đảng việt gian cộng sản lại trở lại thực thi cái gọi là “trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”. Có khác là do tình hình mới và kinh nghiệm lịch sử cũng như lực lượng những người Việt Nam không theo cộng sản còn rất nhiều, đó là lực lượng mà chúng ta có thói quen gọi là những người Quốc-gia tập trung dưới sự chỉ đạo của Quốc-trưởng Bảo Đại sau khi được Pháp trao trả quyền độc lập. Nhưng vì lúc bấy giờ cái quá khứ thực dân Pháp đã khiến nhân dân Việt Nam chưa đủ tỉnh táo đồng thời những âm mưu nham hiểm của tập đoàn việt gian cộng sản và hai mẫu quốc đỏ Nga sô Tàu cộng chưa bộc lộ thật rõ ràng bộ mặt thực dân, vì chúng đã lợi dụng tập đoàn viêt gian Hồ chí Minh thực thi những công việc mà do thực dân đỏ yêu cầu. Đó là chúng rút ra từ bài học lịch sử của chủ nghĩa thực dân phương Tây. Cho nên việc chính phủ Bảo Đại chỉ có con đường duy nhất cứu nguy dân tộc trong lúc đó là phải liên-hiệp với Pháp đã khiến bộ máy tuyên truyền của cả hệ thống thực dân đỏ trên toàn thế giới, trong đó có cả tại nước Pháp, phản tuyên truyền, khiến tính chính nghĩa của cuộc chiến chống tụi xâm lược đỏ bị hạ phong. Nhất là việc tuyên truyền và phản tuyên truyền của chính phủ Bảo Đại không những bản thân đã yếu kém và gần như không được sự ủng hộ và hỗ trợ của các tiếng nói trên thế giới.

Có thể nói rằng sự tồn tại của chính phủ Bảo Đại, và sau này là của hai nền đệ nhất và đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa, chủ yếu về mặt chiến đấu hy sinh là của lực lượng quân sự và nền tảng chính trị ở nông thôn chính là lớp giáo dân. Đó là hai cột trụ của thành trì chống xâm lược đỏ Nga xô, Tàu cộng thông qua lũ ngụy quân việt gian cộng sản và tập đoàn đảng cộng sản việt gian, từ đó cho đến tận nay.

Trận Điện Biên Phủ là đỉnh cao sự thâm nhập quân sự của Tàu cộng vào VN và cũng là đỉnh cao sự phụ thuộc toàn diện của tổ chức việt-gian cộng-sản đối với Tàu cộng bởi vì các cơ quan (chuyên chính và công an) của việt-gian cộng- sản trong thực tế do Tàu cộng lèo lái và phục vụ cho quyền lợi cho Nga xô và Tàu-cộng.

Vì những lý do đó mà việc dọn đường cho đất nước và dân tộc Việt Nam hoàn toàn trở thành tài sản của thực dân đỏ Nga xô, Tàu cộng là việc phải tiêu diệt tất cả bốn tầng lớp rường cột của xã hội Việt Nam, tức là Trí, Phú, Địa, Hào. Phải tiêu diệt đến cái mức độ là đào tận gốc, trốc tận rễ để làm gì? Một đất nước mà các tầng lớp rường cột nói trên trong xã hội bị tiêu diệt thì rõ ràng là chỉ còn có những người lao động bằng cơ bắp. Quả thực là vừa dễ dàng thôn tính, cai trị mà cũng bộc lộ rõ cái dã tâm nô lệ hóa của thực dân đỏ còn tàn bạo hiểm độc gấp triệu lần thực dân phương Tây. Cho nên tội ác của tụi việt gian thờ thực dân đỏ cũng gấp nhiều triệu lần so với tụi việt gian thờ thực dân phương Tây.

Rút kinh nghiệm từ vụ Xô viết Nghệ Tĩnh của năm 1930 – 1931, tên đại việt gian Hồ chí Minh và cái đảng việt gian của chúng lại dùng chữ nghĩa để làm mơ hồ mọi người:

1- Diệt trí được gọi là cách mạng văn hóa tư tưởng cùng với những cuộc chỉnh huấn thường xuyên và bưng bíp thông tin;

2- Diệt Phú được gọi là cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh cùng với hợp doanh và lập các hợp tác xã tiêu thụ cũng như sản xuất;

3- Diệt Địa bằng cái gọi là cải cách ruộng đất tiến tới hợp tác hóa nông nghiệp;

4- Diệt Hào bằng cái gọi là chỉnh đốn tổ chức tiếp theo là xử dụng lũ vô sản lưu manh thành thị và nông thôn cùng với lũ đầu hàng sau chỉnh huấn vào mọi chức vụ hành chính từ cơ sở tới trung ương.

Với cái gọi là bốn cuộc cách mạng đó, đảng việt gian cộng sản Hồ chí Minh hoàn toàn coi như là được Bolshevick hóa, như lời Hồ đã hứa trong thư gửi quốc tế ba (tức bộ thuộc địa của Nga xô), được viết từ 1929. Có nghĩa là trong đảng việt gian cộng sản hoàn toàn không còn bất kể một ai có ý thức về quốc gia dân tộc, còn lòng yêu nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam mà chỉ toàn là những tên trong mọi hành động và suy nghĩ đều hướng về tổ quốc thứ hai của chúng là Nga xô, cùng với anh Hai của chúng là Tàu cộng.

Hệ lụy của những việc đó được chứng minh bởi sự câm lặng của cả đảng việt gian cộng sản trong những vụ việc dâng đất dâng biển cho Tàu cộng, dâng tài nguyên thiên nhiên và lao động cho Nga xô (như các mỏ dầu, cảng Cam Ranh, lao động ở Si-be-ry, cũng như cuộc hiến xâm lược vào Việt Nam Cộng Hòa, sẵn sàng nổ súng vào dân thường, trường học, các di tích văn hóa lịch sử, các cơ sở tôn giáo.Từ khi Hồ còn sống cho đến nay mọi hành động, đường lối chính sách vẫn là như vậy, toàn dân Việt Nam từ sau 30 tháng 4 1975, dù là ở phía Nam hay phía Bắc đều cùng một thân phận nô lệ đỏ. Còn tập đoàn việt gian cộng sản càng ngày càng bộc lộ rõ là công cụ của Nga xô và Tàu cộng.

Như vậy sẽ có người hỏi tại sao lại có cuộc chiến giữa việt gian cộng sản và Tàu cộng vào năm 1979?

Như chúng tôi đã trình bày nhiều lần, căn cứ vào chính tài liệu của tập đoàn việt gian cộng sản còn giữ lại trong các văn kiện của chúng như “Văn kiện đảng toàn tập hay Hồ chí Minh toàn tập”… thì đảng việt gian cộng sản là do Nga xô thông qua bộ thuộc địa (tức quốc tế 3) đã cho tuyển lựa nhân sự người Việt Nam, đào tạo về lý luận, huấn luyện về tuyên truyền, về khủng bố và về lật đổ, tạo nội chiến để đạt mục tiêu cuối cùng là cướp được bộ máy nhà nước. Rồi, khi đã nắm được bộ máy nhà nước trong tay, tổ chức việt gian cộng sản thực sự là một chi bộ của đảng cộng sản Nga hay nói cách khác là nhân sự của thực dân đỏ Nga xô để che mắt thế giới cũng như người dân Việt Nam về bộ mặt thực dân đỏ trong việc xử dụng và đất nước và nhân dân Việt Nam như tài sản và nô lệ các loại. Xử dụng nô lệ Việt Nam trong việc mở rộng thuộc địa đỏ cho Nga xô, vì thế Nga sô mới ra lệnh cho tập đoàn việt gian cộng sản phải lấy cái tên là đảng cộng sản Đông dương. Có nghĩa là chúng không chỉ nô lệ hóa nhân dân Việt Nam cho Nga xô mà còn có trách nhiệm bằng mọi cáck kể cả vũ trang nô lệ hóa nhân dân Lào và nhân dân Cambode, cũng như biến toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Động Dương thành thuộc địa đỏ của Nga xô.

Ngay từ khi cho hình thành đảng cộng sản Đông Dương thì Nga xô đã xử dụng nó vào 2 mục đích:

1- Mở rộng thuộc địa đỏ cho Nga xô ra toàn bộ Đông Nam Á. Đó là lý do tên đại việt gian Hồ chí Minh đã được phái đi xây dựng các tổ chức gọi là cộng sản ở cả Thái Lan, Mã Lai…

2- Vì Nga xô biết rằng với một đất nước hơn 9 triệu km vuông, với một dân số vào loại động nhất thế giới vào thời kỳ đó lại được nuôi dưỡng qua hầu hết các triều đại trong lịch sử nước Tàu bằng chủ nghĩa đại Hán bành trướng, thì chắc chắc đảng cộng sản Tàu cũng sẽ theo truyền thống đó để trở thành đối thủ chính yếu trong việc giành chức bá chủ của thế giới thực dân đỏ. Cho nên đảng cộng-sản Đông Dương, một khi hoàn thành sự nghiệp bành trướng đỏ của Nga xô trên cả ba nước Đông Dương sẽ phải là con đê chắn sự bành trướng đại Hán ra vùng Đông Nam Á.

Nhưng vì trong giai đoạn bành trướng thực dân đỏ Nga xô ở Việt Nam mà lại cách xa với mẫu quốc Nga xô, cho nên dưới sự chấp nhận của Nga xô, Hồ chí Minh và đảng việt gian của hắn buộc lòng phải dựa vào Tàu cộng và cũng dành cho Tàu cộng một số quyền lợi như dâng đất dâng biển, như ghi vào điều lệ đảng việt gian của chúng cái gọp là tư tưởng Mao Trạch Đông, cũng như chấp nhận các thái thú Tàu cộng trong cái gọi là thực thi bốn cuộc cách mạng như đã nói ở trên. Phải làm như vậy vì hoàn cảnh lúc đó, với bản chất việt gian bán nước giết dân, Hồ và đảng việt gian cộng sản không thể có con đường lựa chọn thứ hai.

Nếu chúng ta có nghiên cứu kỹ lưỡng về con người Hồ chí Minh thì sẽ thấy rằng hắn đóng khá thành công vai trò hèn hạ khi tuân lệnh các thái thú Tàu cộng, như vụ giết bà địa chủ Nguyễn Thị Năm, mà đã có nhiều ngòi bút đề cập đến. Cũng như Hồ cho rập khuôn tất cả những đường lối chỉ đạo của Tàu cộng trong mọi hoạt động của tổ chức việt gian cộng sản kể cả việc xử dụng những tên việt gian hoàn toàn trung thành tuyệt đối với Tàu cộng như Hoàng văn Hoan, Chu văn Tấn, Lê Quảng Ba, Nguyễn Chí Thanh… và nhận phái viên của Mao tham gia vào chấp hành trung ương của việt gian cộng sản là Lý Ban (vì thế cho nên mặc dù Lý Ban còn rất trẻ tuổi nhưng bao giờ Hồ cũng gọi là tiên sinh.).

Chỉ riêng cái việc Hồ gọi Lý Ban (phái viên của Mao được bổ sung vào ban chấp hành trung ương việt gian cộng sản) là “tiên sinh”, đã cho thấy tên đại việt gian Hồ chí Minh là một tên đầy thủ đoạn. Cùng là cộng sản với nhau, chưa nói đến Lý Ban, về danh xưng là một thành viên trong cái trung ương của tổ chức việt gian cộng sản của Hồ, thế mà Hồ không gọi là “đồng chí hoặc chú” như gọi những tên việt gian cộng sản khác, đủ cho thấy qua việc này:

1. Hồ tôn trọng Lý Ban, không dám đứng ngang hàng, bình đẳng, vì Hồ muốn qua việc này chuyển đến Mao rằng Hồ một lòng một dạ tôn kính Mao như bề trên hay nói cách khác là ông chủ lớn.

2. Nếu suy nghĩ kỹ thì sẽ thấy Hồ cũng muốn nhắn nhủ với Nga xô rằng lúc nào hắn cũng nhớ Nga xô đã đẻ ra hắn và cái tổ chức việt gian cộng sản. Vì tình hình lúc đó hắn buộc phải “ở đợ” cho Tàu cộng nhưng vẫn ghi nhớ rằng cần phải giữ khoảng cách (nghĩa là có sự phân biệt) với Tàu cộng. Và đây cũng là một cách báo hiệu cho những tên việt gian cộng sản xung quanh hắn biết được thái độ của hắn đối với Nga xô và Tàu cộng để tùy trình độ thông minh của từng đứa mà có cách ứng xử cho thích hợp.

Nhưng mọi hành động và ngôn ngữ của Hồ làm sao qua được mắt của Mao, cho nên khi Hồ chết (9/1969), cả Mao và Lâm Bưu biểu hiện sự nhạt nhẽo bằng cách chỉ cho thư ký riêng mang vòng hoa đến viếng Hồ tại sứ quán việt gian cộng sản ở Bắc Kinh. Còn trước đó, khi việt gian Nguyễn chí Thanh chết (1967), cả Mao và Lâm Bưu đều đích thân đến sứ quán việt gian cộng sản ở Bắc Kinh và cùng nghiêng mình tưởng niệm một cách trân trọng đối với tên việt gian trung thành Nguyễn chí Thanh.

Cho nên tên đại việt gian Hồ chí Minh đã rất láu cá khi hắn làm ra vẻ chấp hành ngoan ngoãn các chỉ thị dạy bảo của phái viên của Mao một cách rất lộ liễu, là nhằm hai mục đích một lúc:

1. Núp sau lưng các tên cố vấn do Mao phái sang và xử dụng các biện pháp tàn bạo thú tính của Tàu cộng để thực thi cái gọi là “Trí, phú, địa , hào, đào tận gốn, trố tận rễ”, nhằm dọn đường cho sự cai trị toàn diện và tuyệt đối của Nga xô ở Việt Nam trong tương lai. Nếu ai đó ca thán thì sẽ chỉ nghĩ rằng Hồ bị bắt buộc phải làm theo ý Mao mà thôi. Đến nay lũ phản tỉnh cuội, đặc công đỏ như tụi Bùi Tín, Vũ thư Hiên, Nguyễn minh Cần và sử nô các loại là người Việt Nam ở cả trong và ngoài nước, mà cả người ngoại quốc nữa cũng vẫn mơ hồ về chuyện đó nên cho rằng Hồ chỉ có tội không dám cưỡng lại lệnh của Mao?!!

2. Làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân Việt Nam thầm oán Tàu cộng. Đồng thời cũng là dọn đường cho màn hề sau này của Hồ được gọi là “Hồ sụt sùi nước mắt xin nhận có sai lầm trong Cải cách ruộng đất và v.v…, vì bị sức ép của các cố vấn Tàu cộng.

Mao cũng chẳng lạ gì Hồ, nên hắn đã lợi dụng thời thế đó, “thừa gió bẻ măng” để lấn đất, lấn biển, ra mặt can thiệp và chỉ đạo trực tiếp vào mọi hoạt động của tập đoàn việt gian cộng sản. Mao bắt Hồ phải chấp nhận để biến Việt Nam thành bãi rác thải công nghiệp, như phải xây dựng khu công nghiệp liên hợp gang thép ở Thái Nguyên (là đồ phế thải từ nhà máy ở Mãn Châu của Nhật từ thời thế chiến đệ nhất) cho nên càng sản xuất thì càng lỗ, giá thành cao gấp chục lần so với nhập ngoại. Như phải nhận xây dựng khu liên hợp công nghiệp Việt Trì, nhà máy dệt 8-3, nhà máy xay sát gạo Hưng Yên, Hà nội,v.v… Như phải giữ nguyên hệ thống đường xe lửa đã lạc hậu từ thời thực dân Pháp để lại. Đó là lý do Tàu cộng bắt phải cho mở đường bộ từ Tàu sang Việt Nam đến tận Đông Anh, Hà nội. Cũng như tập đoàn việt gian Hồ chí Minh buộc phải cho quân Tàu cộng độc quyền quản lý khu núi Cánh Diều (Ninh Bình); phải xây đài thu phát sóng truyền thanh khá tối tân, do Nga xô viện trợ, ở biên giới Cao Bằng với Tàu. Cho nên trong trận xâm lược 1979, Tàu cộng đã nhanh chóng chiếm đài thu phát này và gỡ toàn bộ máy móc mang về Tàu.

Một mặt Tàu cộng vẫn giúp đỡ tận tình việt gian cộng sản vũ trang xâm lược Việt Nam Cộng Hòa, một mặt ngấm ngầm tìm cách móc nối với Việt Nam Cộng Hòa (nhưng không thành công) và bắt đầu kế hoạch tháo gỡ cái thế gắn bó của ba nước Việt, Miên, Lào qua bàn tay của cái gọi là đảng cộng sản Đông Dương, là con đẻ của bành trướng Nga xô ở Đông Nam Á. Cho nên năm 1951 Mao thúc ép Hồ phải cho tái xuất hiện tập đoàn việt gian cộng sản trong danh xưng mới là đảng Lao động Việt nam để xé lẻ cái đảng cộng sản Đông Dương (công cụ của Nga xô) thành ba mảng là:

1. Đảng Lao động Việt nam;

2. Đảng nhân dân cách mạng Lào;

3. Đảng nhân dân cách mạng Cambode.

Và từ đó Mao tìm cách giảm ảnh hưởng của cộng sản Việt Nam trong tổ chức của Lào và của cả Cambode.

Độc địa hơn nữa, sau này khi tập đoàn việt gian cộng sản Hồ chí Minh phải dựa vào Mao để vũ trang xâm lược Việt Nam Cộng Hòa, Mao còn ép Hồ phải dựng ra cái gọi là đảng nhân dân cách mạng Việt Nam ở trong Nam, và phải đưa tên việt gian Nguyễn chí Thanh, một tên cuồng tín thờ Tàu cộng, vào Nam giữ chức vụ bí thư của cái đảng nhân dân cách mạng Việt Nam đó. Để nếu khi vũ trang xâm lược Việt Nam Cộng Hòa thành công thì cái đảng nhân dân cách mạng Việt nam do Nguyễn chí Thanh cầm đầu sẽ là công cụ của Tàu cộng, và sẽ liên kết với nhóm Pôn-Pốt của cộng sản Cambode cũng như với cộng sản Lào qua nhân vật Xu-va-na Phu-vông để khống chế trở lại đi tới triệt tiêu cái gọi là đảng Lao-động Việt nam của Hồ ở phía Bắc vì thế Mao đã có kế hoạch không chỉ nắm chặt lấy Pôn Pốt, Iên-xa-ri, Khiêu-xăm-phon đồng thời cũng nuôi dưỡng nhân vật Sihanouk và gia đình. Đối với Lào thì giúp nhà vua Lào và tìm cách hoà giải hai anh em Xu-va-na Phu-ma (thủ tướng chính phủ vương quốc Lào) và Xu-va-na Phu-vông, là ủy viên bộ chính trị của đảng nhân dân cách mạng Lào (tức cộng sản). Và Mao còn lợi dụng việc độc quyền làm đường giao thông bộ ở phía Bắc Việt Nam để làm luôn giao thông bộ cho Lào tới sát biên giới Cambode (chỉ cách độ 15 km). Từ đó nhiều hàng viện trợ của Mao cho Lào và Cambode, trước đây phải qua tay việt gian cộng sản, thì đã phần lớn trao trực tiếp cho Lào và Cam bốt, nhằm phá sự khống chế của việt gian cộng sản đối với các đảng cộng sản Lào và Cambode.

Giờ xin được quay trở lại từ hội nghị Genève năm 1954 về Việt Nam. Chính vì muốn nắm chặt hơn nữa tập đoàn việt gian cộng sản, nên Tàu cộng mới hãm cái đà thừa thắng xông lên của cái gọi là “chiến thắng Điện Biên Phủ” để quyết định chia đôi Việt Nam, buộc Hồ tuy trung thành với Nga xô, nhưng về địa lý lại cách xa ngàn trùng, nên dù muốn hay không Hồ bắt buộc phải phụ thuộc vào Tàu cộng để vũ trang xâm lược nốt Việt Nam Cộng Hòa. Như thế Mao mới càng có điều kiện thâm nhập về nhân sự và gây ảnh hướng sâu rộng trong mọi sinh hoạt xã hội ở Việt Nam và cả trong nội bộ đảng việt gian cộng sản.

Ta thử hỏi, tại sao Hồ và tập đoàn việt gian cộng sản đã thờ Nga xô là mẫu quốc, lại có thể chấp nhận thỏa mãn mọi yêu sách của Tàu cộng?

Lý do không có gì là khó hiểu. Nếu chúng ta thực sự bỏ công sức nghiên cứu thì sẽ thấy rằng: Bản chất Hồ là một tên đại việt gian, tuyệt đối trung thành với Nga xô. Hắn đã lèo lái cho toàn đảng của hắn trung thành với Nga xô (như lời hứa trong lá thư năm 1929) và cũng bằng nhiều biện pháp làm cho toàn đảng việt gian cộng sản trung thành với hắn (tức là xử dụng cái gọi là bốn cuộc cách mạng. Cho nên hắn tự xưng là “cha già dân tộc”; đổi tên Quân-đội Quốc-gia thành cái gọi là quân đội nhân dân và “lính cụ hồ”; “công an cụ Hồ”, “dân cụ Hồ”, “thiếu nhi cụ Hồ”, “đất cụ Hồ”, “gạo cụ Hồ”, thậm chí cả “hạt muối cụ Hồ” và v.v…

Cho nên Hồ đã thực thi bốn cuộc cách mạng kết hợp với âm mưu cho con đường vì Nga xô mà chống Tàu cộng như kế hoạch mà Nga xô đã trao cho khi đặt tên đảng cộng sản Việt Nam là đảng cộng sản Đông Dương vào 1930.

Vì thế:

1. Hồ cho tiêu diệt các thành phần rường cột của Việt Nam, để lại thành phần lao động cơ bắp, như thế dễ dàng chấp nhận thân phận làm nô lệ cho Nga xô qua mỹ tự “vô sản quốc tế”, “thế giới đại đồng”, để sau đó dễ dàng chịu sự phụ thuộc toàn diện như thí dụ “thực hiện phân công trong kinh tế xã hội chủ nghĩa do Liên Xô lãnh đạo “!” Như thế trên thực tế chúng thừa nhận Nga xô là chủ nhân ông một cách toàn diện: Cả đất đai sông biển, cả con người Việt Nam là tài sản của Nga xô. Còn đảng việt gian cộng sản là nhân sự trong bộ máy do Nga xô chỉ đạo để quản lý và khai thác những tài sản đó cho Nga xô.

2. Tiêu diệt các tôn giáo để tạo ra một thứ tôn giáo mới (núp dưới khái niệm “đảng”, nhằm trói buộc người dân Việt Nam đặc biệt là lũ đảng viên việt gian cộng sản tự nguyện làm nô lệ cho Nga xô. Cái tôn giáo mới này có các thần thánh là lũ cầm đầu của đảng cộng sản Nga xô; các chức sắc giữ đền thờ là những tên việt gian cộng sản từ trung ương tới địa phương; toàn thể nhân dân Việt Nam sẽ bị bó buộc phải là tín đồ của cái tôn giáo đó (như Hồ đã hứa với Nga xô từ 1929 là Bolshevik toàn đảng tiến tới Bolshevik toàn dân Việt Nam); Còn thiên đường là cái gọi “thế giới đại đồng” do Nga xô vẽ ra, ở ngay dưới trần!? Nhưng cái thiên đường đó chưa bao giờ xuất hiện và cũng sẽ chẳng bao giờ xuất hiện, vì ngay tụi cầm đầu các tổ chức cộng sản trên toàn thế giới cũng cãi nhau như ếch nhái trong đêm, mà cũng chẳng kẻ nào mô tả được cái thiên đường đó dài ngắn, rộng hẹp ra sao!!!

3. Đặc biệt lợi dụng cái gọi là bốn cuộc cách mạng, Hồ cho tiêu diệt những người Việt Nam dù đang ở trong hay ngoài tổ chức việt gian cộng sản, vẫn còn giữ lòng yêu nước, còn tự hào là người Việt Nam, còn ghi nhớ tinh thần quốc gia dân tộc cũng như truyền thống văn hóa và lịch sử của dân tộc. Hồ cũng nhằm tiêu diệt từ cơ sở những ảnh hưởng của nhóm Trường Chinh, Lê văn Lương, Hoàng quốc Việt, Chu văn Tấn…, là nhóm ảnh hưởng của Tàu cộng. Và một mặt nữa, Hồ cho thanh lọc để trong đảng việt gian cộng sản chỉ còn lũ vô sản lưu manh thành thị và nông thôn; và những lũ dù có được ăn học thì cũng đã đầu hàng, phản bội lại quốc gia dân tộc, nghĩa là một lũ mặt người dạ thú như kiểu Bùi Tín, Nguyễn đình Thi, Cù huy Cận, Hoàng minh chính, Võ nguyên Giáp, Tố Hữu và …

Nhờ hiệp định Genève 1954 về Việt Nam, Hồ và tập đoàn việt gian cộng sản được tạm thời quản lý nửa nước Việt Nam, từ vỹ tuyến 17 trở ra Bắc, thì ngụy quyền việt gian cộng sản Hồ chí Minh đã có nhiều điều kiện trực tiếp nhận viện trợ mọi mặt và các loại cố vấn Nga xô cho việc bành trướng chủ nghĩa thực dân đỏ Nga xô ra toàn Đông Dương.

Trước đó, Nga xô muốn tiếp xúc với việt gian cộng sản chỉ có thể dùng đường bộ và đường sắt nhưng phải đi qua Tàu cộng (suốt từ Bắc chí Nam nước Tàu). Còn từ khi Hồ được vào Hà-nội thì Nga xô đã trực tiếp xử dụng đường hàng không qua các sân bay Gia Lâm, Hà nội; Cát bi, Hải Phòng và cả sân bay Vinh, Nghệ An cũng như sân bay Bạch mai, Hà-nội nhưng có giới hạn vì hai sân bay Vinh và Bạch Mai quá nhỏ. Về đường biển Nga xô xử dụng các cảng Hải Phòng; cảng Hòn Gai, Quảng Ninh và cảng Bến Thủy (Vinh, Nghệ An).

Tòa sứ quán Nga xô thật là đồ xộ, chiếm trọn vẹn trường nữ trung học của thực dân Pháp xưa kia, có tên Félix Faure; gần như tất cả các vila to và đẹp gần quanh đó, kể cả những vila ở đường Khúc Hạo, Trong đó có tư gia của Phạm văn Đồng, liền tường với sứ quán Nga xô, và đi bộ chỉ độ 10 phút là đế phủ chủ tịch ngụy quyền việt gian cộng sản của Hồ (sau này Hồ cho làm thêm ngôi nhà sàn ở trong đó, chứ không phải như tên Trần Nhu bịa chuyện đăng trên web VietnamExodus và vài web điện tử khác rằng ngôi nhà sàn đó ở 12 Ngô Quyền, Hà-nội!?!?!?); cũng chỉ hơn 10 phút là tới khu văn phòng trung ương đảng việt gian cộng sản; chiếm toàn bộ trường trung học Albert Sarraut. Từ sứ quán Nga xô đến phủ thủ tướng ngụy quyền của Phạm văn Đồng (ở sau lưng của phủ chủ tịch của Hồ); đến bộ ngoại giao ngụy quyền việt gian cộng sản (sở tài chánh thời thực dân Pháp) cũng chỉ khoảng 15 phút đi bộ. Và nếu đi tới tư gia của bọn việt gian Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ nguyên Giáp, Nguyễn duy Trinh, Tố Hữu, Nguyễn văn Vịnh và Lê Liêm… cũng chừng 15 đến 20 phút là cùng.

Nga xô thì thâm hiểm, còn Tàu cộng thì đại lưu manh.

Cho nên một mặt Nga xô cho quan chức thuộc địa đỏ ào ào sang Bắc Việt Nam, với danh xưng Nga xô, thì cũng cho tuyển người để đào tạo, cả từ quân sự đến khoa học kỹ thuật; cả từ văn hóa nghệ thuật đến giáo dục… trong con em của việt gian cộng sản, nghĩa là nắm lấy tầng lớp trên trong số nô lệ đỏ. Như về quân sự, các sĩ quan ngụy quân được cho qua Nga xô đào tạo lại kể cả lũ tướng lãnh như Văn tiến Dũng, Hoàng văn Thái, Lê trọng Tấn, hoàng minh Thảo, Phạm ngọc Mậu, Nguyễn Quyết, Hoàng Cầm, Phùng thế Tài, Giáp văn Cương, Vũ Lăng, Lê ngọc Hiền, Nguyễn văn An, Phạm Hồng Cư… Hầu hết lũ nắm về khoa học kỹ thuật đều có Nga xô đào tạo, từ Nguyễn văn Hiệu, Nguyễn văn Đạo, Nguyễn đình Tứ, Vũ đình Cự đến Phan đình Diệu; cũng như về khoa học xã hội là Đặng xuân Kỳ, con trai của Trường Chinh; Phan đăng Tâm; con trai của Phan đăng Lưu và những tên khác như Nguyễn hữu Chỉnh (tiến sĩ chính trị kinh tế) từng phụ trách bình luận chính trị quốc tế của báo Nhân Dân từ thời kỳ Hoàng Tùng làm tổng biên tập, cho đến Tô ngọc Thanh, viện trưởng dân tộc học (con của Tô ngọc Vân), Nguyễn văn Phúc viện trưởng viện văn học; Xuân Trường, viện trưởng viện nghệ thuật , sau còn giữ chức trưởng ban văn hóa tư tưởng và … Ngay cả các cán bộ của trung ương việt gian cộng sản như Hoàng Tùng, Trần quang Huy, Trần Vỹ, Trần Sâm (hai tên này là phó bí thư việt gian cộng sản ở Hà nội qua các đời bí thư thứ nhất theo thứ tự, Trần quốc Hoàn, Trần danh Tuyên, Nguyễn văn Trân, Nguyễn Lam, Hoàng văn Hoan, Lê văn Lương, Nguyễn thanh Bình (cháu rể của Lê Đức Thọ).

Còn Tàu cộng chỉ đào tạo một số giáo viên bậc trung học, như kiểu Tôn gia Ngân (con trai Tôn quang Phiệt), sau làm trưởng ty giáo dục Thanh Hóa, quan thày đầu tiên của cuội dân chủ Nguyễn thanh Giang và là cha đẻ của Tôn vân Anh, trong nhóm cuội ở Đông Âu hiện nay. Tàu cộng cũng đào tạo công nhân ngành đường sắt, xây dựng cầu cống và đường bộ, thợ dệt và đặc biệt nắm chặt khu liên hợp gang thép Thái Nguyên và khu công nghiệp Việt Trì. Ngoài ra Tàu cộng cũng đào tạo một số cán bộ chính trị cho ngụy quân việt gian cộng sản, một số trong tuyên huấn, dân vận, công đoàn… Thí dụ như việt gian Nguyễn Chương, ủy viên ban tuyên giáo trung ương, cán bộ giảng dạy chính trị của trường Nguyễn ái Quốc, sau làm bí thư tỉnh ủy của cộng sản ở tỉnh Hải Dương và sau cùng là thứ trưởng thứ nhất kiêm bí thư đảng đoàn việt gian cộng sản của bộ nông trường ngụy quyền việt gian cộng sản, mà tên thiếu tướng việt gian cộng sản Đặng kiên Giang (trong vụ án xét lại) cũng là thứ trưởng.

Cả Nga xô và Tàu cộng đều công khai tìm mọi cách nắm lấy tập đoàn việt gian cộng sản cũng như tuyên truyền đường lối sùng bái Nga xô hoặc Tàu cộng trong nhân dân Việt Nam.

Tóm lại là Hồ biết rằng Tàu cộng dư biết quan điểm chính trị của Hồ là hoàn toàn ngả về phía Nga-xô. Nhất là từ khi Hoàng văn Hoan, rời chức đại sứ việt-gian-cộng-sản tại Bắc-kinh để trở về VN nhằm có thể thường xuyên dự họp bộ chính trị việt-gian-cộng-sản, thì Hồ chỉ cho họp khi nào Hoan vắng mặt. Cho nên Hoàng văn Hoan phát chán, suốt ngày đến nhà bồ nhí ở đường Quan Thánh, Hà-nội, hú hí. Còn không thì lại than đau ốm, đi nước ngoài chữa bệnh, chủ yếu là sang Tàu cộng.

Tàu cộng chuẩn bị cho việt-gian-cộng-sản “một bài học” từ khi đó, nhưng vì còn mắc chuyện rối ren trong nước về cái gọi là “cách mạng văn hóa” với các “tiểu tướng hồng vệ binh” và chưa nắm được Lào cộng. Lợi dụng những khó khăn đó của Tàu cộng, Nga-xô càng đẩy mạnh viện trợ cho việt-gian-cộng-sản về quân sự từ nhu cầu phòng thủ ở phía Bắc VN chống không quân Mỹ đánh “leo thang”, cho đến việc xâm lược VNCH. Còn Hồ, để xoa dịu cơn phẫn nộ của Mao, đã đi một nước cờ khá lưu manh. Đó là trao cho Trần Quỳnh, thư ký riêng của Lê Duẩn, soạn một loạt tài liệu lên án chủ nghĩa xét lại hiện đại, vừa cho tổ chức học tập và nghe báo cáo cho các cán bộ trung cao, vừa cho bày bán công khai ở các cửa hàng sách, kể cả ở cửa hàng sách ngoại văn, cũng như cửa hàng sách nhà xuất bản sự thật (nơi chỉ bán các sách lý luận kinh điển về cộng sản).

Tất nhiên, Trần Quỳnh là kẻ có học theo hệ thống chính quy, chứ không như Cuội Hoàng minh Chính, học lực phổ thông mới đến “lớp đệ ngũ hay đệ tứ gì đó” (bọn Bùi Tín, Vũ thư Hiên cũng rứa), nhờ đường lối giai cấp nên cho qua Nga-xô học ngay đại học (về xã hội). Cho nên Trần Quỳnh đã soạn tài liệu đúng với mong muốn của Hồ. Vì thế, tại đại hội việt-gian-cộng-sản lần 4 (1976), Quỳnh được là một trong 101 tên trong trung ương của việt-gian-cộng-sản. Quỳnh còn nhanh chóng được cho làm phó thủ tướng cho Phạm văn Đồng cùng thời với Tố Hữu (phó thủ tướng thường trực), sau này hắn còn được vào bộ chính trị việt-gian-cộng-sản.

Trung thành với quan điểm thần phục Nga-xô của Hồ, cũng như làm sao quên được, sau đại hội 3 việt-gian-cộng-sản, tháng 11-1960, được Hồ giắt sang Nga-xô dự họp 81 đảng cộng sản, nhân tiện giới thiệu với quan thày, trong diễn văn của mình, Lê Duẩn đã công khai tuyên bố “Liên bang Xô-viết là tổ quốc thứ hai của chúng tôi”. Vì thế, sau đại hội 4 việt-gian-cộng-sản, chúng quay trở lại cái tên là “đảng cộng sản VN”, rồi sau đó đổi tên nước thành “cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN”. Chúng cho di dân từ Bắc vào Nam, đi cả làng, chủ yếu là các vùng khu 5, Tây nguyên…,đồng thời thành lập tổng cục kinh tế của bộ quốc phòng, nhằm thực hiện “lập nông trường quân đội”, nghĩa là vẫn giữ nguyên đơn vị chiến đấu để vừa làm nông nghiệp và lâm nghiệp, vừa sẵn sàng chiến đấu. Rồi tổ chức huấn luyện rà mìn cho địa phương. Đó là sự trá hình của việc huấn luyện quân sự cho thanh niên, dân quân ở các làng xã của miền Nam VN. Còn di dân cả làng và lập nông trường quân đội là một cái chuyển quân, chuẩn bị cho cuộc chiến Tây Nam sau này.

Cùng một lò cướp ngày mà ra, cho nên Tàu cộng chẳng lạ gì âm mưu đó. Vì thế, mặc dù còn nhiều khó khăn sau cái gọi là “cách mạng văn hóa”, Tàu cộng vẫn ồ ạt viện trợ quân sự trực tiếp cho Pol-pốt. Những nhân vật Tàu cộng tai to mặt lớn qua lại Nông-pênh như con thoi, tỷ dụ như Đặng dĩnh Siêu, vợ của Chu ân Lai, rồi Uông đông Hưng, thường vụ bộ chính trị Tàu cộng (một bày tôi thân tín của Mao), cùng cố vấn, chuyên gia đủ loại, hệt như với việt-gian-cộng-sản sau 1954.

Năm 1978, Lê Duẩn cùng các ủy viên bộ chính trị việt-gian-cộng sản sang triều kiến mẫu quốc Nga-xô, ký cái gọi là hiệp ước ” hòa bình hữu nghị, hợp tác toàn diện và triệt để “. Đó chính là khế ước bán nước trọn vẹn cho Nga-xô và tiếp tục vì Nga-xô mà bôn-sê-vích hóa toàn Đông dương và ra vùng Đông-Nam-Á, như Nga-xô đã trao nhiệm vụ cho tập đoàn việt-gian-cộng-sản từ 1930 !!!

Cho nên, dù không có cái gọi là gây rối và “cáp duồn” của quân Pol-pốt ở biên giới thì ngụy quân việt-gian-cộng-sản vẫn có cả 1001 lý do “rất chính đáng”để đem quân xâm lược Căm-bốt. Việc xâm lược Căm-bốt đã có trong lịch trình hoạt động của đảng cộng sản Đông dương (tiền thân của việt-gian-cộng-sản) do Nga-xô vạch ra từ 1930 !!! Còn một lý do nữa để tập đoàn việt-gian-cộng-sản ưu tiên làm chiến tranh hơn là xây dựng, hàn gắn vết thương chiến tranh tại VN. Đó là, việt-gian-cộng-sản muốn nhổ tận rễ những mầm mống của ý thức Quốc gia-Dân tộc ở VN, tức là con em người dân VNCH, ở lớp tuổi thanh, thiếu niên vào thời 1975. Chúng không có lý do bỏ tù mà cũng không thể bỏ tù ngay được. Bài học những thiếu niên ở độ tuổi 15,16 ở vùng Hố Nai là một điển hình, đã võ trang tấn công các đồn bốt của công an việt-gian-cộng-sản, chứ chưa nói đến những người lớn tuổi. Và, những thanh, thiếu niên đó đã bị tập đoàn việt-gian-xâm-lược kết những án tù thật nặng nề: từ 16 đến 20 năm tù khổ sai. Chính tôi đã chung sống trong cùng một trại tù với những thanh, thiếu niên đó ở trại tù Z30D, Hàm tân, Thuận hải. Điều khiến việt-gian-cộng-sản lo ngại là những thanh, thiếu niên đó, nhiều người không có thăm nuôi của gia đình, vì quá nghèo sau khi VNCH bị việt-gian-cộng-sản đặt ách thực dân đỏ, nhưng chưa thấy một người nào làm ăng-ten, hoặc làm trật tự ác ôn v.v…mà còn hay tìm cách đánh ăng-ten, trật tự. (Không như kẻ khoe nhà văn, nhà báo lâu năm mà trong tù bị trùm mền đánh nhừ tử, vì tội làm ăng-ten !). Cho nên việt-gian-cộng-sản giải quyết bằng cách bắt con em nhân dân VNCH vào ngụy quân để xâm lược Căm-bốt. Đúng là một công đôi việc: vừa mượn quân lính của Pol-pốt giết cái lực lượng bị nghi ngờ đó, vừa thực thi được âm mưu bành trướng thuộc địa đỏ cho mẫu quốc Nga-xô. Cho đến nay, con số thương vong của cái lực lượng đó, mà chúng ta được biết, có thể còn dưới sự thực nhiều, mà đã là hơn 600 ngàn bị chết và hơn 400 ngàn thành phế nhân. Một con số thật khủng khiếp !!! Việt-gian-cộng-sản chỉ cần phát ra khoảng hơn 600 ngàn bảng “gia đình vẻ vang”, và cũng hơn 400 ngàn gì đó bằng khen các loại, thế là xong. Và chừng một triệu gia đình nạn nhân là công dân của VNCH, bỗng biến thành “gia đình cách mạng” (nghĩa là ở vị trí đối lập với VNCH)!!!

Đó cũng là lý do vì sao không thấy sự phản kháng trong tầng lớp thanh niên ở miền Nam VN, và đa phần không có một khái niệm gì về cuộc sống ở VNCH xưa kia, trên mọi lãnh vực !

Bài học nói trên là việt-gian-cộng-sản đã “áp dụng tư tưởng Mao” trong việc đưa lính Tàu của Tưởng giới Thạch đầu hàng trong danh xưng “chí nguyện quân Trung quốc viện Triều (tiên) chống Mỹ” bằng chiến thuật “biển người” để cho Mỹ tha hồ thực thi chiến thuật “cối xay thịt”, mệt nghỉ luôn ! Thế là hết hậu họa mà lại cột chặt ân tình của Bắc Hàn vào Trung nam hải.

Năm 1979, sau khi đi Mỹ về, Đặng tiểu Bình, vẫn còn phải cư trú tại Quảng Đông, trong sự bảo vệ của Diệp kiếm Anh, đã thực hiện việc dạy cho việt-gian-cộng-sản một bài học.

Việc dạy cho việt-gian-cộng-sản là một điều bức thiết đối với Đặng, vì:

1) Đặng cần phải về Bắc kinh, để củng cố quyền lực cá nhân. Nhờ Mao giáng chức mấy lần, Đặng mới biết một kẻ nguy hiểm còn hơn cả Lâm Bưu, đó là Ngô Đức, kẻ thật sự có thực lực trong lúc đó, vì hắn nắm các chức vụ : ủy viên thường vụ bộ chính trị; chủ tịch ủy ban cách mạng quân khu Bắc kinh; chủ tịch thành phố Bắc kinh; ủy viên thường vụ quân ủy trung ương; tư lệnh kiêm bí thư quân khu ủy quân khu Bắc kinh. Và, cái quân khu Bắc kinh ấy có 4 quân đoàn được trang bị tối tân nhất trong toàn bộ binh lính của Tàu cộng. Nhờ việc đánh VN mới điều động được một số quân của Bắc kinh đi, và trám vào đó là quân của quân khu Tân cương do nguyên soái Trần Vân chỉ huy. Nhờ thế đã bất thần bắt sống được Ngô Đức. Và họ Đặng đã quay được về Bắc kinh.

2) Đánh VN lúc đó vì ngụy quân việt-gian-cộng-sản đang sa lầy ở Căm-bốt, nên có thể chiếm được nhiều chiến lợi phẩm thuộc 6 tỉnh của VN ở biên giới, đồng thời lại lấn thêm được một số đất đai và còn không tốn người, tốn của nhiều lắm để chiếm hết các cao điểm chiến lược. Chưa nói đến là cho đến nay vẫn chưa ai thống kê được có bao nhiêu bản làng vì sợ bị giết nên đã mặc nhiên tự nhận là người Tàu, và đương nhiên là ruộng nương của bản làng cũng trở thành của Tàu !!!

Qua sự việc trên, chúng ta lại thấy thêm một trọng tội nữa của tập đoàn việt-gian-cộng-sản đối với đất nước và nhân dân VN chúng ta. Vì quyền lợi của Nga-xô, chúng đã đẩy vào lò lửa chiến tranh cả người cả của, cả đất đai của VN cho Tàu cộng. Ký hiệp ước với Nga-xô mà Nga-xô đâu có cứu giúp gì. Không những thế, trước bao khó khăn trên mọi lĩnh vực chỉ vì quyền lợi của Nga-xô vậy mà phải cấp thời trả nợ chiến phí cho Nga-xô, dâng cảng Cam ranh không được một cắc bạc lẻ ; và trong liên doanh về dàu khí thì kết quả thảm hại hơn cả con chó săn khi săn được con mồi “chủ ăn thịt, chó gặm xương”. Đây thì chủ Nga-xô cũng gặm nốt luôn cả xương rồi đem nấu cao !!!

Tập đoàn việt-gian-cộng-sản đã được bài học nhớ đời đó, cho nên khi Nga-xô sụp đổ thì chúng thống nhất quay lại một lòng một dạ thờ Tàu cộng, miễn rằng Tàu cộng cho phép chúng được làm như thân phận của con chó săn. Ngoại trừ các thành viên trong cái tổ chức việt-gian-cộng-sản chấp nhận thân phận CHÓ SĂN, nghĩa là vẫn tiếp tục ở lại đảng việt-gian-cộng-sản, vẫn tiếp tục phấn đấu làm đơn xin gia nhập và thề trung thành cho đến hơi thở cuối cùng mọi tôn chỉ cũng như âm mưu của tổ chức và có thể phê phán cá nhân, thậm chí giết cả con người hoặc giết sinh mệnh chính trị của cá nhân đó (vì ai ai thì trước sau cũng vào ngủ ở nghĩa địa muôn năm) nhưng tuyệt đối phải bảo vệ toàn bộ tổ chức việt-gian- cộng-sản. Nghĩa là cá nhân có thể sai, còn cái tổ chức việt-gian-cộng-sản thì không bao giờ sai!!!

Cho nên đến tận năm 2009 này, biết bao tang chứng bán dân VN, bán đất VN, bán biển VN,bán tài nguyên của VN, hoặc rẻ mạt, hoặc biếu không ngoại bang, đặc biệt với Tàu-cộng-bành-trướng-đại-hán mà vẫn ngoan cố không dám kết tội việt-gian cho tập đoàn tự gọi là đảng cộng sản VN thì:

1) Nếu đã là đảng viên cộng sản (như Bùi Tín…)hay đang là đảng viên cộng sản, thì chúng chỉ là PHẢN TỈNH CUỘI hoặc CÒ MỒI CHÍNH TRỊ ;

2)Nếu không là đảng viên cộng sản, thì do bội thực thông tin dzổm và mắc bệnh mù lòa chính trị;

3) Nếu là cá nhân, không phải đảng viên cộng sản, mà còn tích cực chống cộng, thì đó là lối chống cộng để có vốn và có tiếng nhằm được việt-gian-cộng-sản tìm đến MUA làm CÒ MỒI CHÍNH TRỊ;

(chuyện này đã và đang xảy ra đối với một số điện báo, đài phát thanh, đài truyền hình…Chẳng cần lưu ý lắm cũng thấy bọn chúng đang nhè nhẹ quay ngược chiều, cũng như một số cây bút tên tuổi).

4)Nếu là đảng phái hay hội đoàn thì đó là chống cộng dzổm, hoặc là tay sai của việt-gian-cộng-sản hoạt động ở hải ngoại. Cần nhớ là cho đến nay đã 34 năm rồi, kể từ Quốc hận 1975, cho nên dù chỉ là thành viên trơn mà vẫn chưa dám từ bỏ những tổ chức dzổm đó thì không thể nào coi họ là có ý thức QUỐC GIA–DÂN TỘC và thực lòng cứu nguy Tổ quốc và Nhân dân VN mà chống việt-gian-cộng-sản!

5) Những cá nhân và tổ chức còn công khai tuyên bố “đa phần đảng viên cộng sản tốt, hãy cố chờ một Goóc-ba-chớp hay một Yeltsin VN”như Phan văn Lợi của cái gọi là 8406 thì có thể kết luận đó là đồ dzổm, phế thải lạc soong chính trị, thứ chống cộng có môn bài của việt-gian-cộng-sản cấp. Thử hỏi:” đa phần đảng viên cộng sản tốt”, là chúng tốt với ai ? Chúng tốt với lũ Đỗ nam Hải, Trần anh Kim, Phan văn Lợi và Nguyễn chính Kết hay tốt với Lm Nguyễn văn Lý, các Ls Lê thị công Nhân, Nguyễn văn Đài v.v..và TỐT với Nhân dân và Tổ quốc VN.

Đến bây giờ tên đặc công đỏ Bùi Tín lại lèo lái dư luận hải ngoại vào việc coi toàn bộ tập đoàn việt-gian-cộng-sản chỉ có 15 tên trong bộ chính trị của chúng là có tội. Loại trừ tụi tay sai của Bùi Tín, lộ mặt qua việc quảng bá “định hướng truyền thông” của hắn, và các tổ chức hội đoàn, đảng phái ma trơi, chính trị phở bò, nhiều người ở hải ngoại, đáng mừng là cả trong giới trẻ, đã hiểu âm mưu của tên đặc công đỏ Bùi Tín đang hăng say dọn đường cho đại hội việt-gian-cộng-sản sắp tới đây, chắc chắn có thể toàn bộ hoặc đa số trong 15 tên, đã hoàn thành nhiệm vụ việc đẩy VN vào trạng thái lệ thuộc “toàn diện và triệt để” đối với sự thống trị của Tàu cộng, sẽ rút lui sống cuộc đời hưởng thụ. Như vậy số mới “trúng cử” sẽ có thể là đối tượng hòa giải–hòa hợp được với hải ngoại, để thực hiện mở rộng tự do, dân chủ (đang có lũ cò mồi tự do tư tưởng được lũ cơ hội hải ngoại đánh bóng như Lê phú Khải, Tô Hải, Hoàng Hưng, Nguyễn huệ Chi…) và đa nguyên, đa đảng, liên kết trong và ngoài VN, mà mở đầu bằng việc lập văn phòng hải ngoại của cái gọi là 8406, do những nhân vật từ trong VN bổ nhiệm. Đúng là “cười ra nước mắt” khi đọc thông báo thấy cựu trung tá ngụy quân việt-gian-cộng-sản là nhân vật số hai trong ba người ký, để bổ nhiệm Gs Nguyễn văn Canh và còn có cả me-xừ Gs Nguyễn xuân Vinh (hì, hì…) làm cố vấn cho văn phòng trong thời hạn hai năm. Chấp nhận làm gia nô cho một thằng trung tá ngụy. Mà cái thằng trung tá ngụy này lại là gia nô của tên cuội dân chủ Trần Khuê. Xem ra “hai vị giáo sư thứ thiệt này” còn có sự đặc biệt là lưng uốn dẻo hơn diễn viên xiếc và da mặt dày hơn da mông con tê giác, chắc là không có nổi một tế bào kẻ sĩ tryền thống của VN, cũng như không có lấy một giọt máu nhỏ của binh tướng VN đã diệt xâm lược trong nhiều ngàn năm. Là người mà không bằng cái vảy móng chân con ngựa đá của vua nhà Trần.

Xin được kể tiếp phần trên.

Qua việc điểm lại sơ lược những diễn biến ở VN, xin được trả lời tóm tắt như sau:

Tập đoàn việt-gian-cộng-sản do tất cả ban chấp hành trung ương từ khóa 5 trở đi, đã muốn quay lại thờ nhân vật số 2 trong thế gìới thực dân đỏ là Tàu-cộng-đại-hán-bành-trướng. Kể từ mẫu quốc đỏ Nga-xô sụp đổ, không có khả năng khôi phục ngay được, thì vì bản chất việt-gian, luôn luôn muốn duy trì thân phận người dân VN là tài sản của chúng, chúng đã tự nguyện đặt vào cái thế đối lập không thể thay đổi, đối với nhân dân và Tổ quốc VN. Nhân dân VN chỉ hoàn toàn được giải phóng khỏi thân phận nô lệ để trở lại làm chủ nhân ông của bản thân và của Tổ quốc VN khi không còn tồn tại cái tổ chức việt-gian-cộng-sản đó.

Không lấy dân làm gốc thì làm gì có chỗ dựa để tồn tại và phát triển.

Không lấy dân làm gốc cũng có nghĩa phủ nhận quyền lợi Quốc gia.

Vì thế tổ chức việt-gian-cộng-sản vốn được hình thành như sự ra đời của cây tầm gửi, thì nó đương nhiên chỉ có thể tồn tại nhờ sống ký gửi vào một cành của đại thụ.

Lịch sử ra đời, phát triển và hoạt động cùng với hoàn cảnh địa lý cũng như tình hình thế giới hiện nay, đặc biệt những âm mưu tàn bạo của chủ nghĩa bành-trướng-đại-hán khiến tập đoàn việt-gian-cộng-sản đưa nhân dân và đất nước VN vào con đường phụ thuộc “toàn diện và triệt để” với Tàu cộng (đang tiến tới mô hình Hồng Kông hay Ma-cao bằng chủ trương, chính sách về kinh tế, văn hóa tư tưởng và nghệ thuật cũng như tín ngưỡng, như Khổng giáo là một thí dụ).

Phần ý kiến cá nhân chúng tôi thì nghĩ rằng những tranh chấp về đảo về biển, về vụ bô-xít chỉ là một âm mưu của việt-gian-cộng-sản có sự ăn ý với Tàu cộng, nhằm :

1) Dùng những chuyện này để sữ dụng lũ dân chủ cuội, đặc công đỏ, đảng phái ma trơi, phở bò lèo lái dư luận để có thể hóa trang cho một kiểu hòa giải–hòa hợp của Cộng đồng người Việt tị nạn việt-gian-cộng-sản với các tổ chức cuội trong nước, như đảng dân chủ 21, khối 8406, cao trào nhân bản, một số tay cò mồi kẻ sĩ (như Nguyễn huệ Chi, Lê phú Khải, Hoàng Hưng, Nguyên Ngọc, Bùi minh Quốc, Hà sĩ Phu…gồm cả mấy anh chàng tổng biên tập các báo tuổi trẻ, thanh niên, du lịch, pháp luật, đại đoàn kết…, cùng lũ cò mồi áo trùng thâm, đầu trọc, làm từ thiện…). Và cử đà đó sẽ ra đời một thứ đa nguyên đa đảng cuội, tạo chứng cớ cho một số nhân vật quốc tế nhắm mắt làm ngơ trước những sự thật phũ phàng về thân phận của nhân dân và đất nước VN.

Việc Nguyễn chính Kết ra hải ngoại như điệp viên 007 (không cho Lm Nguyễn văn Lý biết mà chỉ bàn thảo với Đỗ nam Hải và Phan văn Lợi (!?), rồi Bùi kim Thành, đảng viên dân chủ 21 của Trần Khuê (tác giả thánh hồ), nay mai có thể thêm Lê thị Kim Thu, vừa là dân oan lại vừa là phóng viên dân oan của điện báo VNExodus, nhờ VNExodus được nói chuyện với dân biểu Mỹ Loretta Sanchez, việt-gian-cộng-sản lại tặng cho hơn một năm tù làm nhãn cầu chứng nên đã có tên hàng đầu trong danh sách can thiệp của dân biểu Mỹ Loretta Sanchez.

Mới đây nhất, trung tá ngụy việt-gian-cộng-sản là Trần anh Kim, cũng hòa giải–hòa hợp với những người cũng đeo đủ thứ huy hiệu “chống cộng”, trong đó có các me xừ giáo sư thứ thiệt hẳn hoi, như Nguyễn văn Canh (đồng chí của Trần Nhu), Nguyễn xuân Vinh (bạn thân của Nguyễn chí Thiện) và hạ bút ký đề bạt hai vị giáo sư kia làm cố vấn cho cái gọi là văn phòng 8406 ở Bắc Ca-li, tạm thử thách tài năng trong 2 năm thôi, nếu ngoan ngoãn sẽ xét sau. Và đặc biệt cái anh lơ mơ Đào văn Bình nào đó, chắc cũng muốn được một chân tà lọt, nên đã vinh danh ngụy quân Trần anh Kim là Trần bình Trọng!!!(Thật xấu hổ thay cho ông thày nào đã dạy môn lịch sử VN cho trò Đào văn Bình ?!).

Nếu việt-gian-cộng-sản có thể là “sở hữu chủ” cái cộng đồng giàu USD và giàu chất xám này thì đương nhiên cành có lợi cho Tàu cộng. Bởi vì chính Tàu cộng cũng đã nhắm vào cái cộng đồng này từ lâu, cho nên mới có việc những anh chàng Tàu xen vào mọi hoạt động của Cộng đồng người Việt tị nạn việt-gian-cộng-sản. Những việc như Kevin Khánh trở thành ÂN NHÂN của lãnh tụ của phong trào nhân dân hành động (không biết nhân số có đếm hết ngón trên hai bà tay không ?) là Ls Hoàng duy Hùng, kẻ đã ca ngợi việt-gian Hoàng minh Chính hết lời (đấy cũng là một kiểu hòa giải–hòa hợp đậy bằng vải sô), là một thí dụ rõ ràng !

Nếu chinh phục được Cộng đồng người Việt tị nạn việt-gian-cộng-sản, có nghĩa là Tàu cộng và việt-gian-cộng-sản BỊT ĐƯỢC MIỆNG TOÀN DÂN VN. Quốc tế sẽ không còn được biết những gì diễn biến thực sự tại VN, sẽ không được nghe tiếng nói trung thực nguyện vọng của toàn dân VN cả trong và ngoài nước. Không một người nước ngoài nào hiểu cặn kẽ VN bằng người VN có ý thức Quốc gia–Dân tộc. Không một người nước ngoài nào yêu và hy sinh cho VN hơn một người VN có ý thức Quốc-gia–Dân tộc.

Tiền đồ đất nước và dân tộc VN là trách nhiệm chung của mọi người dân VN dù ở trong hay ngoài VN, không là việt-gian-cộng-sản. Không thể vì uy tín của cá nhân nào mà khoán trắng cho một bộ óc được quyền suy nghĩ, còn mọi người đi theo như mộng du ! Chúng tôi nêu lên cái chân lý ấy là để thấy trong “Lời kêu gọi…” vừa qua của hòa thượng Quảng Độ, có một điều không ổn vì đề nghị mở một hội nghị kiểu Diên Hồng để việt-gian-cộng-sản có thể cùng bàn (?) ” việc nước” với người Việt trong và ngoài nước trước vấn nạn Tàu cộng.

Xin quý bạn đọc xét cho, như tôi đã sơ lược sự việc ở trên về mối quan hệ của Tàu cộng với tập đoàn việt-gian-cộng sản. Có thể hòa thượng Quảng Độ bị tù và quản chế lâu năm nên chưa thực sự thấy rõ chân tướng việt-gian của tập đoàn cộng sản VN. Hãy thử tưởng tượng thời quân Nguyên xâm lược VN, vua nhà Trần mở hội nghị Diên Hồng để bàn thảo với thứ dân, chứ có đâu bàn thảo với tên việt-gian Trần ích Tắc. Thời Minh xâm lược thì vua Lê bàn với Nguyễn Trãi hay với việt-gian Lương nhữ Hốt. Thời thực dân Pháp, vua Duy Tân bàn với Phan đình Phùng hay với việt-gian Hoàng cao Khải. Và thuở 1945, các đảng phái quốc gia, các nhân sĩ, trí thức, phú gia…kể cả công dân Vĩnh Thụy vì bàn thảo với Hồ việt-gian việc chống Pháp thực dân nên kết quả ra sao ???

Còn hiện nay, ai là đại diện trung thực nguyện vọng của người dân VN ? Trần Khuê với đảng dân chủ 21 ? Hay Nguyễn thanh giang ? Hay du sinh phản chiến Nguyễn đan Quế ? Hay tên ăn cắp xe đạp của bạn gái với bí danh là “nhà dân chủ máy lạnh” Nguyễn khắc Toàn ? Hay trung tá ngụy Trần anh Kim, lãnh tụ của khối 8406, đồng thời là ủy viên chỉ định (không cần bàu) cuả đảng dân chửi 21 ? Còn ngoài nước thì những loại như Đỗ hoàng Điềm, Hoàng cơ Định, Lai thế Hùng, Đào văn Bình, Hoàng duy Hùng, Đoan Trang và Nguyên Khôi, Thích nhất Hạnh, đại tướng Nguyễn Khánh, Nguyễn văn Canh và Trần Nhu, Nguyễn xuân Vinh và Nguyễn chí Thiện, Bùi Tín và Đồ thị Thuấn ???

Hội nghị họp ở đâu ? Ai chi tiền ? Ai bảo đảm an ninh cho hội nghị ? Hội nghị thảo luận bao lâu ? Ai thi hành những nghị quyết của hội nghị ? Nếu không thi hành thì lại họp dài dài nữa hay sao ? Ai có tiền có súng là kẻ đó làm CHỦ.

Chỉ cần một tên trung tá ngụy hạng bét là Trần anh Kim, tà lọt của giáo sư nhưng chưa hoc hết trung học phổ thông là Trần Khuê mà cũng có thể thu phục được hai giáo sư thứ thiệt, có chân trong nhiều tổ chức chống cộng một cách dễ dàng, thì thử hỏi đi hội nghị gặp mặt việt-gian Nguyễn tấn Dũng, với người anh là chủ nhiệm tổng cục 2 (bộ quốc phòng ngụy) Nguyễn chí Vịnh, sẵn sàng cho hưởng “tứ khoái” mà cũng có thể “bả chuột”…chắc là cà lăm, phát biểu chỉ ra tiếng gâu gâu !!!

Chưa tới tháng 5-2009, nhưng tôi có thể cam đoan là nó sẽ như lời kêu gọi không về VN, không gửi tiền trong Tháng Tư Đen, như Toàn phong Nguyễn xuân Vinh khoe cái sáng kiến đó là của mình, trong thư đầu năm 2009 !

2) Trong khi cãi nhau về mọi thứ “bò trắng răng”, thì việt-gian-cộng-sản và Tàu cộng đã làm xong kế hoạch để biến mỗi thành phố, mỗi đô thị VN thành một địa điểm xây dựng đặc khu kinh tế của Tàu cộng (Chinatown qui mô kiểu mới) bao gồm cả bành trướng từ kinh tế đến hán hóa nhân dân VN, rồi cả văn hóa, tôn giáo…Và theo kiểu đó đất nước và con người VN mới thật sự bị hán hóa “toàn diện và triệt để”. So sánh với nguy cơ đó thì mất vài ngàn ki-lô-mét vuông, mất đảo và biển chỉ là trò đùa.

Bởi vậy, muốn đương đầu với hiểm họa đó thì phải lật mặt những tổ chức dân chủ cuội, nhân sĩ cuội, cá nhân và tổ chức tôn giáo cuội. Cần phải kiên nhẫn tuyên truyền rỉ tai để dần dần nhân dân thấy được bộ mặt việt-gian của tập đoàn gọi là cộng sản VN. Việc kỳ vọng và kế hoạch lôi kéo những kẻ trong tổ chức việt-gian-cộng-sản là chưa cần thiết, cho dù là một đảng viên việt-gian tầm thường. Không thể nói là chúng không biết gì về tội ác tàn bạo của tổ chức việt-gian của chúng. Chỉ khi nào lực lượng nhân dân VN ở thế thượng phong thì mới cần đặt ra chuyện chiêu hồi địch.

Cha ông ta chống xâm lược có đâu khởi đầu bằng chiêu hồi địch, rồi lại chờ có thằng nào đó sang hàng ngũ ta mà tuyên bố không phải đầu hàng, vẫn ca tụng chủ tướng của nó và đề cao quân xâm lược.. để mời nó làm cố vấn, làm thày, tôn vinh đủ kiểu, đội lên đầu thờ như kiểu Hoàng cơ định, Nguyễn bá Cẩn, Hoàng duy Hùng, Toàn phong Nguyễn xuân Vinh, Trần phong Vũ, Lâm thu Vân, Tưởng năng Tiến, Đào văn Bình…với lũ Trần Độ, Hoàng minh Chính, Trần Khuê, Bùi Tín, Vũ thư Hiên, Nguyễn minh Cần, Dương thu Hương, Đỗ nam Hải, Trần anh Kim, Phan văn Lợi, nguyễn chí Thiện…!?

Trong thế chiến 2, lực lượng phát-xít mà đồng minh chiêu hồi cũng chỉ hiệu quả khi chúng bị đánh cho chạy như chuột !

Còn ở hải ngoại cần làm trong sạch hàng ngũ. Hãy vạch mặt chỉ tên những lũ tổ chức ảo như kiểu Cộng đồng người Việt tự do của Lai thế hùng; những tụi tiếp tay cho việt-gian-cộng-sản thực thi nghị quyết 36 của chúng , như kiểu tên Nguyễn chí Thiện kêu gọi đừng biểu tình mà nên theo sách lược ” hiền huynh “… Đại loại kiểu “chống cộng”cho vui và tùy hứng, chưa hiểu gì về cộng sản mà cứ a dua, chỉ thêm hỏng việc. Và đừng bao giờ tin vào lũ thành phần thứ ba xưa kia, lũ du sinh phản chiến, lũ trốn quân dịch. Đặc biệt đừng để cái tổ chức Việt Tân, có truyền thống lừa đảo lòng yêu nước của chúng ta.Khả năng duy nhất của cái đảng đó là bán phở bò, sẽ có lợi cho cả cái đảng đó mà cũng có lợi cho mọi người. Còn nhiều đảng phái, hội đoàn (cả của các tôn giáo) ở hải ngoại có mô hình giống Việt Tân, nhưng tầm cỡ nhỏ hơn, cũng không kém phần nguy hiểm.

Và, tôi nghĩ rằng chúng ta cần dịch và phổ cập các tài liệu chứng minh về bản chất việt-gian của tập đoàn tự xưng là cộng sản VN hiện nay, cùng với lịch sử bán nước, giết dân VN, từ ngày chúng được thực dân đỏ Nga-xô nặn ra. Đồng thời tận dụng mọi phuơng tiện truyền thông (cả hiện đại, cả giản đơn) để phổ cập đến người dân trong nước về bản chất không thể thay đổi của tập đoàn cộng sản VN, về những cá nhân dân chủ cuội, cò mồi chính trị và văn hóa, về những tổ chức dân chủ cuội là công cụ đoàn ngũ hóa những người dân ý thức được trách nhiệm với Quốc gia –Dân tộc để vô hiệu hóa họ bằng mọi thủ đoạn.

Mỗi người hãy tùy thuộc hoàn cảnh và khả năng tự có để làm những gì có hại cho việt-gian-cộng-sản và quan thầy, làm lợi cho bản thân, cho đất nước và dân tộc VN. Từ những đốm lửa nhỏ đó, vì “đồng khí tương cầu” sẽ tụ lại thành đốm lửa lớn hơn và sẽ thành hỏa tai cho tập đoàn việt-gian mọi loại và quan thày.

Anh quốc, ngày 24-4-2009

Việt Thường,

http://www.hon-viet.co.uk/NBVietThuong_TraLoiSaiGonNho.htm

tay sai suc vat ho chi minh nong duc manh nguyen tan dung nguyen minh triet dan ap da man giao dan giao xu Dong Chiem Ha Noi

tay sai suc vat ho chi minh nong duc manh nguyen tan dung nguyen minh triet dan ap da man giao dan giao xu Dong Chiem Ha Noi

Dong Chiem Ha noi Parish attacked brutally by Vietnamese Communist Party