“Cụ” rùa của Nông Đức Mạnh

LTS.- Đưa tin cụ Rùa nổi lên trên mặt nước Hồ Gươm trong những ngày qua, tập đoàn việt-gian-cộng-sản có ý bịp người dân Việt rằng bọn chúng được thuận theo ý Trời mà nắm quyền cai trị nhân dân trong nước.

Lầm, chúng lầm một cách thảm hại! Thần Kim Quy xưa hiện lên và trao gươm cho vua Lê lợi để đánh đuổi giặc Minh. Dẹp tan giặc, cụ Rùa lại nổi lên thâu hồi gươm báu lại.

Nay, trước hiểm họa việt-gian-cộng-sản ra thân khuyển mã làm tay sai cho Tàu cộng, dâng đất, nhượng biển của nước nhà cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc. Bán buôn người dân Việt làm lao nô, trò tiêu khiển tình dục cho các nước trên thế giới. Cưỡng bức cướp đoạt tài sản, nhà cửa, ruộng vườn của người dân trong nước. Đánh đập, khủng bố thủ tiêu những ai thực sự dám lên tiếng đòi quyền sống, quyền làm người. Đàn áp mọi tôn giáo bằng mọi phương tiện, vũ khí tôi tân nhất đối với những tín đồ, giáo dân tay không một tấc sắt chỉ biết cầu nguyện trong ôn hòa…

Cụ rùa lại nổi lên để báo hiệu cho toàn dân Việt Nam biết rằng: Giờ G đã điểm, toàn dân Việt Nam hãy sẵn sàng vùng lên diệt tập đoàn việt-gian-cộng-sản và đánh đuổi giặc Tàu phương Bắc ra khỏi bờ cõi Việt Nam như thời điểm Lê Lợi nhận kiếm báu và khởi binh xua quân Minh chạy trối chết về Tàu vậy.

Kính mời quý bạn đọc cùng theo dõi bài:

“Cụ” rùa của Nông Đức Mạnh

Nam Nhân

Tờ báo Metro ở Anh quốc, số ra ngày 13/10/2003, ở trang 3 có đưa tấm ảnh “cụ” rùa ở Hồ Gươm, Hà-nội với đầu đề: “Con vật cô đơn nhất thế giới” (The loneliest animal in the world).

Thế là “cụ” rùa cô đơn ở Hồ Gươm đã được toàn thế giới biết đến. Các nhà khoa học lo lắng về sự tuyệt chủng của “cụ” rùa Hồ Gươm. Bởi cho đến nay chủng loại của “cụ” không thấy xuất hiện bất cứ nơi đâu trên trái đất này.

Từ mấy năm nay, sau bài báo đầu tiên của ông giáo sư văn học của Hà-nội, Hà Đình Đức viết về “cụ” rùa, thì, các báo của đạo quân xâm lược cộng sản Việt Nam như tờ Nhân Dân, tờ Lao Động v.v… đều đưa tin về “cụ” rùa rất ư là trang trọng và khẩn thiết kêu gọi bảo vệ “cụ” và còn có ý định cưới vợ cho “cụ” nữa!!! Thế hệ trẻ của Việt-nam ở trong và ngoài nước; những người Việt không sống lâu năm ở cái đất Hà-nội dễ dàng tưởng tập đoàn xâm lược cộng sản Việt-nam rất quan tâm đến bảo vệ “cụ” rùa.

Theo “tộc phả” của “cụ” rùa thì hơn 500 năm trước đây, không biết có phải cụ rùa này không, hay các tiền bối của “cụ”, đã lấy lại gươm báu cứu nước từ tay vua Lê Lợi, sau khi quân xâm lược nhà Minh bị đánh tan.

Trong 500 năm đó, biết bao nhiêu biến cố xảy ra trên đất Hà-nội (xưa gọi là Thăng Long). Quân xâm lược triều Thanh bên Tàu; thực dân Pháp rồi Phát xít Nhật đều đã chiếm đóng Hà-nội. Nước thải từ các cống rãnh và nhất là ở nhà máy điện đã hạn chế sự phát triển của tông tộc “cụ” rùa. Nhưng số lượng họ “rùa” Hồ Gươm vẫn còn khá đông, cho đến tận cuối 1954.

Năm 1954, những người Hà-nội đi Nam để lánh nạn cộng sản; những người Hà-nội vì lý do nào đó còn kẹt lại ở Hà-nội và những người Hà-nội sau năm 1954 bị tập đoàn Việt gian Hồ Chí Minh bắt đi tù, đi lưu đày ở miền núi núp đưới mỹ từ “kinh tế mới” và biết bao người bị tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh – qua tay tên đao phủ có nghề hoạn lợn, thiến heo Đỗ Mười chém giết, trong cái gọi là “cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh”, đều từng được thấy họ hàng “cụ” rùa tụ tập trên dưới chục “cụ”, phơi nắng trên triền cỏ quanh tháp rùa; hoặc các “cụ” nổi lên lượn lờ tìm dưỡng khí, mỗi lần nhà máy điện thải nước ra hồ. Đó là trước khi tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh vào Hà-nội.

Tông tộc nhà cụ rùa đi đâu?

Chỉ tính từ khi Lê Lợi đánh đuổi quân Minh xâm lược về Tàu, hơn năm thế kỷ đã qua, Hà-nội đã bị gót giày xâm lược của từ quân Thanh (Tàu), cho đến Pháp, rồi lại Nhật, và Hà-nội trở về tay của những người chống xâm lược đỏ. Hà nội khi còn rực rỡ màu quốc kỳ (vàng với ba sọc đỏ), thì tông tộc nhà “cụ” rùa vẫn đông đúc. Chưa kể hằng năm nhân lễ Vu Lan, người Hà-nội đi lễ đền Ngọc Sơn và đền Bà Kiệu, có thói quen mua chim phóng sinh và mua rùa con phóng sinh bằng cách thả xuống Hồ Gươm. Làm gì có chuyện “cụ” rùa bị CÔ ĐƠN!!!

Thật đúng là “nước mất nhà tan”!

Cuối năm 1954, đạo quân lê dương gốc Việt đánh thuê cho thế lực thực dân đỏ Nga-sô và Tàu cộng – được đeo mặt nạ bằng danh xưng “Quân đội nhân dân”, hay còn gọi là “Bộ đội cụ Hồ” – đã đặt gót xâm lược đỏ lên Tổ quốc Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở ra phía Bắc. Và, Hà-nội bị tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh chọn làm “thủ đô” của quân xâm lược đỏ.

Tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh vội vã cụ thể hóa đường lối chính trị mà mẫu quốc Nga-sô đã trao nhiệm vụ cho chúng khi thành lập ra tổ chức Việt gian, Lào gian và Miên gian, mang tên “Đảng cộng sản Đông Dương”, vào đầu năm 1930.

Đường lối chính trị đó là:

“Trí, phú, địa, hào

Đào tận gốc, trốc tận rễ!!!”

Khác với năm 1930 là giai đoạn thực dân Pháp đang đặt ách cai trị lên toàn Việt-nam. Còn Việt-nam của năm 1948 trở đi, trên thực tế đã hình thành hai thế lực, hai tổ chức lực lượng vũ trang:

1.- Lực lượng nhân dân Việt-nam chống xâm lược đỏ, bảo vệ Tổ quốc Việt-nam, tập hợp xung quanh Quốc Trưởng Bảo Đại – Nguyên Hoàng Đế Bảo Đại, triều nhà Nguyễn và tháng 8 năm 1945, tự nguyện thoái vị, trao quyền cho toàn dân Việt-nam, để trở thành Cố vấn tối cao của Chính phủ Liên hiệp đa đảng.

Tượng trưng cho chính thể Quốc gia Việt-nam là quốc kỳ Việt Nam, nền vàng với ba sọc đỏ. Lực lượng vũ trang thuở đó có nhiệm vụ bảo vệ nhân dân Việt-nam, chống tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh, tay sai thực dân đỏ Nga-sô và Tàu cộng. Đấy chính là tiền thân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sau này. Và QLVNVH vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ chống xâm lược, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Tổ quốc từ đó cho đến nay.

2.- Ngay từ cuối năm 1946, tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh đã tạo chứng cớ giả để bôi nhọ các đảng phái quốc gia, các nhân sỹ, trí thức v.v…, nhằm loại bỏ họ ra khỏi chính phủ liên hiệp đa đảng, mà đỉnh cao là những cuộc “đấu tố chính trị”, để rồi sau khi Tàu cộng làm chủ lục địa, chúng dùng danh nghĩa Chính phủ Liên hiệp để điều động Quân đội Quốc gia, là danh xưng của lực lượng vũ trang của các đảng phái tham gia Chính phủ Liên hiệp đa đảng, qua Tàu cộng rèn luyện và vũ trang lại. Qua cái gọi là “rèn cán, chỉnh quân” và “mở rộng cửa đảng”, kết nạp ồ ạt vào cộng sản, chúng đã tiếm được quyền lãnh đạo Quân đội Quốc gia của Chính phủ Liên hiệp đa đảng. Chúng tự tiện đổi danh xưng Quân đội Quốc gia thành cái gọi là “Quân đội nhân dân” hay còn gọi là “Bộ đội cụ Hồ”. Mục đích của chúng là XOÁ DẤU VẾT ra đời của lực lượng vũ trang”. Đồng thời, chúng tự tiện thay đổi tôn chỉ của lực lượng vũ trang là “Trung với nước, hiếu với dân” thành “Trung với đảng, hiếu với dân; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Danh xưng Quân đội Quốc gia khi bị đổi thành cái gọi là “Quân đội nhân dân” hay “Bộ đội cụ Hồ” và tôn chỉ “Trung với nước” bị đổi thành “Trung với đảng”, thì kể từ đó cái gọi là “Quân đội nhân dân” đã thoái hoá thành công cụ chuyên chính của đảng Việt gian cộng sản, và nhiệm vụ của nó không phải là bảo vệ nhân dân, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, mà nhiệm vụ của nó là bảo vệ “đảng” – tức tập đoàn Việt gian chóp bu Hồ chí Minh và những kẻ thừa kế; bảo vệ “Liên-sô, thành trì cách mạng vô sản”- nghĩa là chết cho quyền lợi của Nga-sô và Tàu cộng để mở rộng bờ cõi đế quốc đỏ Nga-sô. Cho nên ý nghĩa chống thực dân Pháp lúc đó không mang mục tiêu là giải phóng nhân dân và bảo vệ Tổ quốc Việt-nam. Cái gọi là “Quân đội nhân dân” thực tế là đạo lính lê dương gốc Việt, đánh thuê cho Nga-sô và Tàu cộng, nhằm tranh giành thuộc địa với thực dân pháp trên bán đảo Đông Dương mà thôi.

Trong bối cảnh lịch sử như vậy, nên tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh phải che đậy mục đích phản dân, hại nước của chúng qua khẩu hiệu:

“Trí, phú, địa, hào

Đào tận gốc, trốc tận rễ!”

Thành:

1.- “Cách mạng văn hoá, tư tưởng” với cái gọi là “chống bè lũ nhân văn – giai phẩm”; “chỉnh huấn mùa Xuân”; “chống chủ nghĩa cá nhân” và “ôn nghèo nhớ khổ”, nhằm trấn áp tầng lớp trí thức; tiêu diệt và thoái hóa họ thành trí nô, thành “người nhộng” an phận, thủ thường với phương châm sống là:

“thứ nhất ngồi ỳ, thứ nhì đồng ý”

2.- “Thoái tô, giảm tức” và “cải cách ruộng đất” nhằm vô sản hoá toàn bộ nông dân, biến họ thành nông nô. Đồng thời qua đó tận diệt các đảng phái không cộng sản; các nhân sỹ; các chức sắc tôn giáo, tiến tới khống chế các tổ chức tôn giáo, tịch thu các tài sản cùng phương tiện hành đạo; đập tan tổ chức hành chánh cơ sở từ xã lên huyện, tỉnh, thành và khu. Từ đó tiêu diệt và loại bỏ ngay cả các đảng viên gia nhập đảng cộng sản vì cái bánh vẽ “độc lập, tự do, hạnh phúc” cho nhân dân và Tổ quốc VN, để hình thành các chính quyền hoàn toàn là tay sai cho Nga-sô và Tàu cộng, cũng như tổ chức của cộng sản từ cơ sở trở lên hoàn toàn là Việt gian từ đầu tới chân.

3.- “Chỉnh đốn tổ chức” kết hợp với “cải cách ruộng đất” nhằm tiêu diệt tầng lớp HÀO – tức tầng lớp quản lý xã hội từ cơ sở lên trung ương.

4.- “Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh” nhằm tiêu diệt giai cấp PHÚ – tức những người có khả năng sản xuất hàng hoá cho xã hội cũng như công việc lưu thông phân phối. Nghĩa là VÔ SẢN HOÁ THỊ DÂN.

Sau những phong trào “cách mạng” nói trên của tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh, nhân dân VN từ vỹ tuyến 17 trở ra Bắc HOÀN TOÀN NÔ LỆ TỰC DÂN ĐỎ Nga-sô và Tàu cộng. Tất cả bị tước đoạt tài sản để thành vô sản thực thụ; bị tước quyền đi lại; quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng; quyền sáng tạo lao động và ngay cả quyền mưu cầu hạnh phúc gia đình…!!!

Sau những cái gọi là “cách mạng” như nêu ở trên, tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh cho thực thi cái gọi là SỬA SAI. Nhưng thực chất của SỬA SAI chỉ là càn đi quét lại sao cho toàn dân trở thành NGƯỜI NHỘNG nghĩa là thành NÔ LỆ cả thể xác lẫn linh hồn!!! Vì thế, những người góp ý phát hiện “sai lầm” đều bị tiêu diệt, trấn áp như Luật sư Nguyễn Mạnh Tường; giáo sư Trương Tửu; thứ trưởng Bộ Văn Hoá Đỗ Đức Dục; Bộ trưởng tư pháp Vũ Đình Hoè v.v… Còn những tên tuy đeo nhãn “sai lầm” như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê văn Lương, Tố Hữu, Hồ Viết Thắng, Nguyễn Đức Tâm v.v… vẫn trèo ngày càng cao trên thang quan lại đỏ. Ngay như Đỗ Mười, leo tới ghế tổng bí thư tổ chức cộng-sản-việt-gian!!!

Trong những biện pháp phản dân, hại nước nói trên – được đeo nhãn hiệu “cách mạng”, binh lính, sỹ quan của cái gọi là “Quân đội nhân dân” – nhất là tụi chính trị viên và chính ủy, được điều động thực thi và nói chung, bọn chúng mẫn cán và tàn bạo nhất, vượt rất xa bọn hành chính, dân sự.

Cũng cần nhớ rằng, tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh dám làm việc phản dân, hại nước ấy, mà chính Hồ tự hào là “long trời, lở đất”, vì chúng làm chủ được lực lượng vũ trang – bao gồm lính và công an. Cho nên cái gọi là “Quân đội nhân dân” và “Công an nhân dân” thực tế lịch sử cho đến nay đã đủ bằng chứng để dán lên đầu bọn chúng bốn chữ “ĐAO PHỦ GIẾT DÂN”. Đó là bọn đâm thuê, chém mướn cho Nga-sô và Tàu cộng.

Thực dân đỏ Nga-sô và Tàu cộng tàn bạo gấp ngàn vạn lần thực dân Pháp; gấp ngàn vạn lần quân xâm lược Tàu khi xưa. Vì thế Hà-nội ngày càng tiêu điều, nhân dân lầm than, cảnh quan tăm tối. Và, tông tộc nhà rùa Hồ Gươm cũng bị tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh sát hại.

Những “cụ” rùa nhỏ cũng nặng hàng 80Kg, còn hầu hết các “cụ” có trọng lượng trên 120Kg.

Các “cụ” rùa đã bị Sở văn hoá thông tin Hà nội, với Nguyễn Bắc làm giám đốc, cùng hợp đồng với Trần Toàn – chủ nhiệm công ty ăn uống Hoàn Kiếm, và với Sở thủy sản Hà-nội do đích thân Nguyễn Trọng Tỉnh, tổng cục trưởng tổng cục thủy sản chỉ đạo, tổ chức đánh bắt lên ĂN THỊT, MAI THÌ ĐEM NẤU CAO. Chỉ còn mai của một “cụ” loại nặng trên 120Kg thì Nguyễn Bắc cho trưng bày ở Văn Miếu, nghe nói sau này chuyển đặt tại đền Ngọc Sơn. (ở Hồ Gươm).

Lý lịch tội phạm

1.- Nguyễn Bắc: người gốc Hải Dương (Bắc Việt), trình độ văn hoá: đỗ bằng tiểu học thời Pháp thuộc (certificat), xin làm giáo viên tiểu học trường làng, dạy lớp 1 – tức đồng ấu. Năm 1947, quân Pháp càn vùng Hải Dương, Nguyễn Bắc bị bắt cùng một số người, trong đó có liên lạc viên của Trần Vỹ, phó bí thư thành ủy của Hà-nội. Khi được tha, Nguyễn Bắc theo làm tà lọt cho Trần Vỹ.

Năm 1954, khi tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh đặt ách cai trị lên Hà nội, dù tên nào được cử về làm bí thư thứ nhất thành ủy cộng sản Hà-nội, từ Hoàng văn Hoan cho đến Nguyễn văn Trân, Trần Danh Tuyên, Nguyễn Lam, Nguyễn Thanh Bình, Lê văn Lương…, tất cả đều phải dựa vào băng đảng của Trần Vỹ, Trần Sâm (cả hai đều là phó bí thư) mới điều hành được công việc.

Nhờ là bộ hạ thân tín của Trần Vỹ và Trần Sâm nên dù mới được vào đảng cộng sản đầu năm 1952, trình độ văn hoá mới hết cấp một phổ thông, thế mà Nguyễn Bắc được cho làm giám đốc Sở văn hoá thông tin của Hà-nội và còn được lôi vào làm thành ủy viên cộng sản.

Ngu dốt, dâm đãng, tàn bạo, thích phô trương là đặc tính của giới quan lại đỏ – từ họ Hồ trở xuống, cho nên Nguyễn Bắc lợi dụng khả năng của một số văn nghệ sỹ trong phong trào “nhân văn – giai phẩm” bị “cải tạo lao động” ở Hà-nội, viết tiểu luận, kịch bản sân khấu v.v… dùm hắn. Thế là tất cả các đoàn từ ca múa đến kịch nói, chèo, cải lương của Hà-nội đều phải dàn dựng các tác phẩm “CỦA” Nguyễn Bắc.

Văn nghệ sỹ bị “cải tạo lao động” thì thâm, trong khi Nguyễn Bắc quá ngu dốt trên địa bàn văn học nghệ thuật, nên họ cố tình nhét những hạt sạn vào tác phẩm. Nếu không nhờ hai quan thầy là Trần Vỹ và Trần Sâm đỡ đòn hộ thì chắc chắn Nguyễn Bắc đã bị đá từ lâu và còn đau hơn Nguyễn Minh Cần, thường vụ thành ủy Hà-nội, giữ nhiệm vụ trưởng ban tuyên huấn kiêm chủ nhiệm nhật báo “Thủ đô Hà-nội”; chỉ vì phạm khuyết điểm về sinh hoạt (chứ không phải lập trường tư tưởng) mà ngay quan thầy là Tố Hữu cũng không đỡ nổi, phải nhường cái ghế trưởng ban tuyên huấn kiêm chủ nhiệm nhật báo “Thủ dô Hà-nội” cho Hồng Lĩnh giám đốc sở giáo dục Hà-nội, một tà lọt thân tín của Trần Quang Huy – đối thủ nặng ký của Tố Hữu!

Kết hợp về chuyện “sáng tác thơ” của Bút Tre, phó ban tuyên huấn tỉnh ủy của Vĩnh Phú (do hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Yên hợp lại) và cái “vô duyên” của nữ phóng viên báo nhân dân là Bạch Diệp làm vợ Xuân Diệu chưa đầy 24 giờ!, cũng như việc Học Phi từng là bí thư tỉnh ủy cộng sản ở Hưng Yên, trước tên chánh tổng ác ôn Đào Duy Tùng (bố của Đào Duy Quát) can tội hay đ… bậy như Hồ, nên ở Hà-nội đã xuất hiện đôi câu đối như sau:

“Thơ Bút Tre, ghe Bạch Diệp

Kịch Nguyễn Bắc, c… Học Phi”

Bắt rùa ở Hồ Gươm ăn thịt đã đành, Nguyễn Bắc còn cho quét vôi trắng lại tháp rùa vì sợ cái “rêu phong cổ kính” của tháp rùa … mất vệ sinh!

Nhiều người Hà-nội đã viết thư đến báo “Thủ đô Hà-nội” phản đối việc ăn thịt rùa Hồ Gươm của thành ủy cộng sản Hà-nội và việc quét vôi trắng Tháp Rùa, trong đó có nhà văn Nguyễn Tuân đã kêu lên rằng: “… cứ đà này ông Nguyễn Bắc sẽ MẠ KỀN Tháp Rùa!!!”

2.- Trần Toàn: quê ở Thanh Trì (xưa thuộc Hà Đông, nay nhập về Hà-nội), gia đình có nghề làm bánh cuốn cổ truyền của cả làng, mang tên bánh cuốn Thanh Trì.

Trần Toàn là người cùng làng nhưng khác thôn với anh hoạn lợn Đỗ Mười.

Trần Toàn là anh cả trong số ba anh em, cùng là công an cộng sản cả, và cùng là bộ hạ của Trần Vỹ và Trần Sâm, cho nên người em thứ hai được điều làm khu phó công an khu Ba Đình (Hà-nội). Còn Trần Toàn làm nhiệm vụ đặc biệt của công an, nhưng được cho về giữ ghế chủ nhiệm công ty ăn uống khu Hoàn Kiếm, Hà-nội (tất nhiên là công ty quốc doanh).

Trần Toàn sau cái gọi là “cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh”, thì hắn quản lý toàn bộ tất cả đầu bếp, các người chế biến ăn uống của toàn Hà-nội, nhất là các món đặc sản trong nước và một số món ăn của Âu châu. Việc phục cụ ăn uống của các hội nghị trung ương và Hà -nội đều do Trần Toàn chỉ đạo. Và tất nhiên Trần Toàn cũng là kẻ cung cấp sự hưởng thụ “tứ khoái” cho thành ủy Hà-nội và một số nhân vật chóp bu trong tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh.

Vì thế Trần Toàn góp phần chế biến thịt các “cụ” rùa Hồ Gươm cho cấp trên NHẬU.

3.- Nguyễn Trọng Tỉnh: Từng là trung đoàn trưởng trong đại đoàn Đồng bằng ngụy quân cộng sản khi Văn Tiến Dũng là đại đoàn trưởng.

1951, trung đoàn trưởng Nguyễn Trọng Tỉnh được điều về Thái Bình giúp việc chống càn của Pháp, và Tỉnh chịu sự chỉ đạo của Hà thị Quế, thường vụ tỉnh ủy cộng sản Thái Bình, kiêm khu ủy viên khu Ba – thời kỳ Đỗ Mười là bí thư khu ủy.

Nguyễn Trọng Tĩnh là nông dân 100%, nhưng cao, to, đẹp trai hơn trai thành thị nên đã làm Hà thị Quế mê lăn mê lóc. Trọng Tỉnh chỉ có nhược điểm là ngu độn, không thể học chữ được.

Còn Hà thị Quế, sau đó được chỉ định cùng lượt với Trần Độ (1960) làm ủy viên chính thức của trung ương cộng sản. Mụ giữ cả hai chức vụ cực kỳ quan trọng của tổ chức Việt gian cộng sản. Đó là: 1) phó ban thường trực ban tổ chức trung ương với Lê Đức Thọ là đầu lãnh. 2) phó ban thường trực ban kiểm tra trung ương, với Nguyễn Lương Bằng là đầu lãnh.

Mấy tên văn nô cộng sản viết sách bợ đỡ Hà thị Quế gọi mụ là “Cọp xám Yên Thế”. Nhưng để tả mụ, chắc phải dùng lại câu văn mà Vũ Trọng Phụng tả chi Doãn trong một truyện ngắn:

“Chị Doãn giống một người đàn ông không đẹp trai. Khi vắng nhà, chị chúm miệng huýt gió bài Marseillaise;” sẽ viết như sau: “Hà thị Quế giống một người đàn ông không đẹp trai. Khi có đám đông mụ cao hứng chúm miệng huýt gió bài “cùng nhau đi hồng binh”!”

Dù thất học, nhưng nhờ vợ là phó ban tổ chức trung ương nên Nguyễn Trọng Tỉnh được lôi lên ngồi cái ghế Tổng cục trưởng tổng cục thủy sản. Tuy thế, Trọng Tỉnh vẫn uất ức vì bị Hà thị Quế cưỡng bức lấy mụ, lại thêm quá ngu dốt không biết làm gì nên công việc ở tổng cục thủy sản có tổng cục phó lo hộ, Trọng Tỉnh chỉ ra công đi họp nước ngoài để ăn chơi và ngủ với hầu hết nữ nhân viên trong tổng cục thủy sản. Các cô bị dính bầu tùm lum. Hà thị Quế ra lệnh đưa các cô đi nạo thai và không biết học từ đâu mà Hà thị Quế cho đem các thai nhi đó ngâm trong mật ong gốc Hà Giang (ong ở đây toàn hút mật hoa cây thuốc phiện) làm thuốc bổ.

Môn thuốc bổ này được thượng tướng ngụy quân cộng sản Chu văn Tấn, kiêm trưởng ban bảo vệ sức khoẻ trung ương, đã phối hợp cùng ủy ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em do đích thân Phạm văn Đồng, thủ tướng kiêm chủ nhiệm ủy ban và mụ Đinh thị Cẩn – nguyên đầu bếp và cũng là bồ của Hồ – giữ ghế phó chủ nhiệm ủy ban, phụ trách thường trực.

Mụ Cẩn có trách nhiệm cung cấp thai nhi cho Chu văn Tấn để chế biến thành thuốc bổ. Nhờ thứ thuốc này mà từ Hồ cho đến Tố Hữu đều mặt mũi đỏ au như nhuộm phẩm. Phạm văn Đồng uống thuốc này mà phải lấy vợ nhỏ do nhà thơ Lưu Trọng Lư làm mối cho – Và ngay Tố Hữu từng tung tin bị liệt dương, cũng phải có bồ là nữ thư ký riêng. Sau bị lộ, Tố Hữu bèn bắt cô ta phải lấy một họa sỹ là em nuôi của cô ta. Sau này, khi leo lên tới ghế phó thủ tướng thường trực, Tố Hữu đã cho cô ta cái ghế tổng giám đốc một công ty liên doanh sản xuất thuốc Tây với Pháp !

Các giới chức quan lại đỏ chóp bu dùng thuốc này đều thành “dê cụ” cả. Từ Võ Nguyên Giáp đến Văn Tiến Dũng, Trần Độ, Song Hào, Phùng Thế Tài, Lê Hiến Mai… Từ Hồ đến Lê Duẩn, Phạm văn Đồng, Hoàng văn Hoan, Trần Quốc Hoàn, Lê Quốc Thân, Ngô Minh Loan, Hoàng văn Diệm, Nguyễn văn Trân, Hoàng Quốc Việt, Trần DanhTuyên, Phạm văn Kỉnh, Xuân Thủy, Hoàng Tùng, Trần Minh Tước (tức Xích Điểu), Trần huy Liệu, Trần Xuân Bách, Vũ Quang v.v… nhiều lắm kể không thể hết!

Ngưu tầm ngưu

Họ nhà rùa Hồ Gươm có từ trước thời Lê, đã trải qua bao lần đảo điên của các đạo quân xâm lược cả phương Bắc, cả phương Tây khi chúng chiếm đóng Hà-nội. Thế nhưng họ nhà rùa Hồ Gươm vẫn con đàn cháu lũ.

Chỉ khi quân xâm lược đỏ do tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh đặt ách cai trị Hà-nội, thì chẳng những nhân dân Hà-nội bị chém giết, mà tông tộc nhà rùa Hồ Gươm cũng bị làm thịt.

Về bề nổi, chúng ta chỉ biết sáng kiến bắt rùa Hồ Gươm là do bộ ba Nguyễn Bắc, Trần Toàn, Nguyễn Trọng Tỉnh đầu têu.

Chúng nói rằng rùa là một trong “tứ linh” (tức long, lân, quy, phụng), nhất là rùa “trăm năm tuổi”, tất thịt phải trị bách bệnh, trường thọ; còn cái mu rùa thì đem nấu cao, gọi là “cao quy” có tác dụng tốt về tình dục.

Cả bộ sậu Hồ chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm văn Đồng… đều biết việc ăn thai nhi, chúng còn nâng lên hàng quốc sách, nâng việc ăn thai nhi và nhau đẻ để giải quyết nạn khan hiếm thực phẩm – nhất là chất đạm.

Vụ rùa Hồ Gươm bị làm thịt cũng ồn lên một dạo ở Hà-nội. Tất cả đều im re. Ba tên tội phạm còn được thăng chức. Nguyễn Bắc sau này còn được nâng lên thành cố vấn văn hoá thông tin cho Hun Xen của Cam-bốt!!! Điều đó chứng tỏ chủ trương bắt rùa Hồ Gươm là do bọn đầu nậu Hồ chí Minh còn ba kẻ lộ mặt chỉ là lũ thừa hành lệnh trên.

“Cụ” rùa cô đơn và đô-la Mỹ

Sau 30/4/1975, lũ Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm văn Đồng, Đỗ Mười… những tên thừa kế họ Hồ, đã biết tới sức mạnh của đồng đô-la Mỹ. Cơn nghiện đô-la Mỹ của chúng càng bốc lửa khi “mở cửa” để đón hàng tỷ đô-la Mỹ của cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản xâm lược gửi về giúp thân nhân còn kẹt ở VN. Cái mồm của Phạm văn Đồng từng đứng giữa Paris , chửi cộng đồng tỵ nạn đó là “đĩ điếm, lười lao động, bám chân giặc Mỹ” v.v… vội đổi giọng thành “Việt kiều yêu nước”. Và lấc cấc như anh hoạn lợn Đỗ Mười cũng toe toét cười nịnh chủ nhân đô-la Mỹ là “khúc ruột ngoài xa”. May mà ở xa, chứ ở gần chắc bè lũ Việt gian Đỗ Mười đã đem “khúc ruột” ra làm “dồi tiết” để nhậu mất tiêu rồi!

Thế là bộ máy xâm lược đỏ vội nặn ra đủ mọi loại tổ chức “đảng”, “chính phủ” và “đoàn thể” để cố nắm lấy túi ĐÔ-LA Mỹ của cộng đồng của Người Việt ở hải ngoại.

Thôi thì, hết anh đại tá đạo quân lê-dương cộng sản gốc Việt, Bùi Tín cho ra lò nào “Hoa xuyên tuyết”, nào “Mặt thật”, nào “Mây mù thế kỷ” v.v… để cố che đậy bộ mặt ăn mày đô-la Mỹ, bằng cách khuyên cộng đồng người Việt hải ngoại “lập 4 quỹ tình thương” trong đó có cả quỹ giúp lính lê dương cộng sản gốc Việt bị thương vừa và nặng khi xâm lược VNCH!!! Và hắn còn xúi dại mọi người “từ bỏ quốc kỳ Việt-nam nền vàng ba sọc đỏ” cũng như đóng góp mỗi tháng một ngày lương để giúp bè lũ xâm lược ở trong nước. Cho đến nay mới chỉ có vợ chồng anh tiến sỹ quản trị Đoàn Viết Hoạt và anh em nhà Nguyễn Gia Kiểng chạy theo. Chưa rõ lũ tự nhận “trí thức trẻ Canada” trong nhóm bác sỹ Lâm Thu Vân, những kẻ liếm gót giầy xâm lược của tên Trần Độ, có từ chối Quốc kỳ của VNCH chăng?

Nghe theo tên đại tá lê-dương Bùi Tín, có nghĩa chúng ta chấp nhận thân phận tôi đòi cho bè lũ Đỗ Mười, Nông Đức Mạnh, vì đã đóng thuế thu nhập cho chúng – mỗi tháng một ngày lương như Bùi Tín quy định!!!

Rồi lại đến anh chàng, xưa người Hà-nội đặt tên là “Tây con, trùm nói phét” Vũ Thư Hiên, viết sách bốc thơm bản thân và gia đình, bạn bè quá cỡ thợ mộc. Người hải ngoại cả tin nên đã tấn phong anh chàng “phóng viên bậc 3” – tức bậc áp chót – thành NHÀ VĂN, dựa vào cuốn hồi ký “chính trị” của “người không làm chính trị”!!! (Vậy mà mọi cuộc họp chính trị đều thấy có mặt”. Viết hồi ký mà thành NHÀ VĂN thì… chú Cuội ở lỳ trên cung quảng là phải. Sự kiện trong hồi ký của Vũ Thư Hiên đều tô màu loè loẹt và đại mâu thuẫn, chỉ lừa được những người cả tin, chưa có kinh nghiệm với cộng sản và những kẻ khi ở tù cộng sản, vì chút quà thăm nuôi mà làm ăng ten cho địch.

Vũ Thư Hiên thì đẻ ra “văn phòng hội chống tham nhũng” ở hải ngoại, mục đích cũng vì đô-la Mỹ.

Đến bây giờ sự việc “cụ” rùa Hồ Gươm cô đơn và nhu cầu lấy vợ, lại là một sáng kiến của tập đoàn Việt gian Nông Đức Mạnh nhằm moi đô-la Mỹ của quốc tế và cộng đồng người Việt hải ngoại.

Điều lạ kỳ là chưa thấy anh em nhà Nguyễn Gia Kiểng hưởng ứng; chưa thấy đại tá lê-dương Bùi Tín đề nghị lập thêm “quỹ tình thương thứ 5” mang tên “Quỹ tình thương RÙA”; cũng như “phóng viên bậc 3” Vũ Thư Hiên – nhưng xuất hiện trên văn đàn từ đầu những năm 50 (?), chưa thấy bổ xung cho nhiệm vụ của văn phòng hội chống tham nhũng “hải ngoại” chống tham nhũng qũy bảo vệ và cưới vợ cho “cụ” rùa.

Chờ gì mà chưa ra chiêu hả mấy nhà đấu tranh cho dân chủ Cuội?

——————————————————————————–

1. tức đảng cộng sản VN

2. Có nghĩa là kể thhù của tập đoàn Việt gian cộng sản Hồ chí Minh.

3. Mọi nghị quyết của cộng sản VN cho đến di chúc của họ Hồ đề nhấn mạnh nhiệm vụ này.
4. có nghĩa đồng ý với mọi đường lối, chủ trương của cộng sản cho dù nguy hại bản thân hay Tổ quốc VN!

5. tiếng lóng miền Bắc, chỉ chỗ kín cuả phụ nữ.

6. Mặt thật của Bùi Tín – Saigon Press xuất bản 1993 – Trang 338-339

http://www.hon-viet.co.uk/NamNhan_CuRuaCuaNongDucManh.htm

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s