Tưởng Niệm Quốc Hận 30-4-1975: Ôn Cố Tri Tân (Lệ Tuyền)

Tưởng Niệm Quốc Hận 30-4-1975: Ôn Cố Tri Tân (Lệ Tuyền)

Hàng năm, cứ đến những ngày trước ngày 30-4, chúng ta lại thấy xuất hiện trên các trang báo với những bài viết về ngày Quốc Hận: 30-4-1975. Các bài viết đa số là giống nhau như chỉ nói đến những cái chết trong các nhà tù « cải tạo » những đau thương, tù đày, vượt biên, vượt biển. Chỉ một số ít tác giả đã vạch mặt, chỉ tên của những kẻ đã từng nhúng tay vào tội ác, từng tiếp tay với giặc, mà hệ quả là ngày Miền Nam Tự Do đã rơi vào bàn tay của bọn việt-gian-cộng-sản.

Trước đây, tôi đã viết bài: 30-4-1975: Máu Và Nước Mắt. Qua bài này, tôi đã viết về những gì mà chính tôi đã chứng kiến. Hôm nay, tôi không lập lại những điều ấy, mà để quý độc giả biết thêm về những tổ chức và những tên gian manh, chúng đã từng tiếp tay với bọn việt-gian-cộng-sản, trong suốt thời gian từ những năm đầu của Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa, cho đến ngày nước mất nhà tan.

Khi nhắc đến miền Nam tự do, thì không có ai có thể phủ nhận được rằng: Kể từ ngày Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm khai sinh ra Thể Chế Cộng Hòa, và dưới ánh sáng mới, người dân của miền Nam đã được sống trong những cảnh Thanh Bình-Tự-do-An Cư-Lạc-Nghiệp. Chỉ những tên cộng sản nằm vùng hoạt động hợp pháp dưới những lớp áo Sư-Cha-Trí Thức … để hoạt động trong cái tổ chức do cộng sản Hà Nội đẻ ra là « Mặt Trận giải Phóng Miền Nam ». Những kẻ này, sau ngày 30-4-1975, bọn chúng đã được sự chỉ đạo của Hà Nội, nên chúng đã trở thành những « nhà đối lập – đấu tranh nhân quyền … v… v… »

Thế nhưng, xin mọi người hãy bình tâm suy nghĩ lại thử xem, những kẻ này cứ sau một thời gian hô hào « tranh đấu, » rồi « ở tù, ra tù »; song rồi tất cả cũng phải lòi ra cái bản chất thật của chúng. Tuy vậy, chúng cũng đã lôi kéo thêm được nhiều người cùng nhập vào cùng băng đảng. Chính lũ này, một lũ đã từng dùng những lưỡi gươm, ngọn giáo, để đâm xoáy vào phía sau lưng của các Anh Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, trong khi các Anh đang từng ngày, từng đêm xuyên rừng, lội suối, cận kề với cái chết, để Bảo Quốc An Dân.

Nhưng giờ đây, đứng trước những trò gian manh lừa bịp của chúng, qua những trò đối lập, dân chủ cuội. Vì thế, tôi không thể im lặng, và nếu vì sự giới hạn của một bài viết, tôi không thể nói hết, thì tuần tự tôi sẽ nêu lên thật đầy đủ về những tổ chức và những tên đã một thời làm tay sai, hoặc đã từng là những đảng viên của đảng-việt-gian-cộng-sản, để đồng bào ở trong và ngoài nước đều được biết, điển hình như những kẻ sau đây:

Những kẻ đã công khai đánh phá để lật đổ Thể Chế Cộng Hòa tại Miền Nam Tự Do:

Một tổ chức, mà gần như được mọi người biết đến, là những kẻ đã đồng chủ xướng để lật đổ Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 11-11-1960. Người đứng đầu của cái tổ chức này là « ông » Luật sư Hoàng Cơ Thụy, là anh của Hoàng Cơ Minh, người đã từng cầm đầu băng đảng Việt Tân, là hậu thân của băng đảng Hoàng Cơ Minh.

Ngược thời gian trở về những năm đầu của thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa. Kể từ sau ngày 20-7-1954, đồng minh Hoa Kỳ đã từng cam kết sẽ bảo vệ miền Nam Việt Nam, là tiền đồn của thế giới tự do, để không cho miền Nam bị rơi vào tay của cộng sản Hà Nội. Nhưng rồi vào tháng 3 năm 1960, một “ thương gia” người Mỹ tên Gouder thuộc hãng buôn American Trading, cũng đã từng chi cho một người Việt với số tiền là 500, 000 ( năm trăm ngàn đồng ) sau đó, người này đã trao cho ông Nguyễn Văn An 50, 000 ( năm mươi ngàn đồng) rồi lừa gạt ông Nguyễn Văn An, là cựu Trung sĩ Bảo Chính Đoàn, sau khi di cư vào Nam, binh chủng này cải danh thành Bảo An Đoàn ở tại Thủ Đức, ông có vợ và hai con, vì lòng chân thật nên ông An đã tin lời tên này, ông đã đi xuống tận khu định cư Cái Sắn và Đại Hải, để tìm được khoảng hơn năm mươi người, và đã nói láo với họ là “ lên Sài Gòn để nhận việc làm ở sỡ Mỹ”, để sau đó, người đã nhận tiền của Gouder lại tung tin: “Cuộc biểu tình của đồng bào Công Giáo di cư ở trại định cư Cái Sắn và Đại Hải chống chính phủ Ngô Đình Diệm”, nhưng rồi tất cả đã không qua được cặp mắt của Ông Cố vấn Ngô Đình Nhu, nên mọi việc đã bị đổ vỡ. Vì thế, vào ngày 29-4-1960, một số người đã họp nhau và đã có một quyết định khác, do đó, mới có cuộc họp tại nhà hàng Caravelle ở đường Tự Do, Sài Gòn, có một số báo chí tham dự. Và sau đó là cuộc “đảo chánh” vào ngày 11-11-1960, nên thường được gọi là “Vụ án Caravelle”. Trong số này, có tên cựu Đại tá Vương Văn Đông, là người thân trong gia đình của Hoàng Cơ Thụy. Nhưng cuộc đảo chánh bất thành, vì ngoại nhân đã sai bảo cho Hoàng Cơ Thụy chỉ được làm đến đó, để gây áp lực với Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm mà thôi. Sau đó, cả Hoàng Cơ Thụy và Vương Văn Đông sang Pháp, thì mọi người không thấy bóng dáng của Vương Văn Đông. Cho đến « Ngày Hoàng Sa » tại Paris, thì người ta bỗng thấy Vương Văn Đông xuất hiện bên cạnh những tên gian manh như: Bùi Tín, Vũ Thũ Hiên, Võ Nhân Trí, Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Ngọc Bích … v…v… Nên nhớ, Vương Văn Đông là người đầu tiên đã phổ biến tài liệu của « Cao trào Nhân Bản » của tên việt gian Nguyễn Đan Quế.

Nói tóm lại, là tổ chức «Vụ án Caravelle » là làm theo thỏa thuận thuê mướn của ngoại nhân, để chỉ làm đến đó mà thôi, chứ không hề có cái gọi là « Cách Mạng » như đám này vẫn thường tự khoe khoang, chỉ những người thiếu hiểu biết, mới nghe những lời vọng ngữ của tổ chức này.

Phong Trào áo trắng Trong Lòng dân Tộc:

Vào ngày mùng một Tết Tân Sửu ( 1961 ). “Lễ ra mắt Quân Giải phóng miền Nam” tại khu rừng già Tây ninh. Tên việt-gian Nguyễn Văn Linh đã “Trao cờ lệnh, cờ Mặt trận giải phóng miền Nam, cho tổ chức “Phong Trào Áo Trắng Trong Lòng Dân Tộc”. Những người lên nhận cờ là Bác sĩ Võ Cương, Dược sĩ Phạm Thị Yên, Dược sĩ Mã Thị Chu, y tá Nguyễn Thị Xoa và Nguyễn Đan Quế, đại diện cho sinh viên y khoa. Tổ chức này dưới sự “hướng dẫn” của nữ Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa vốn là đảng viên cộng sản Pháp, hoạt động tại Sài Gòn với chức “phó chủ tịch nghiệp đoàn thầy thuốc Việt Nam. Tháng 4-1968, Dương Quỳnh Hoa đã ra vùng giặc, và là “Ủy viên trung ương liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam – Bộ trưởng y tế chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam” của đảng việt-gian-cộng-sản.

Trong suốt thời gian trước 30-4-1975, chính bệnh viện Grall của Pháp tại Sài Gòn, đã được sự sắp xếp của tôt chức “Áo trắng trong lòng dân tộc” để cho những tên “biệt động thành, đặc công” và cán bộ nằm vùng của bọn việt-gian-cộng-sản mỗi lần bị thương, hay bị bệnh đều được nằm điều trị một cách an toàn. Danh sách của những tên đã từng tham gia vào tổ chức “Áo trắng” rất nhiều, nên tôi không thể ghi chép hết vào ở đây, song có thể tôi sẽ viết ở một bài khác.

Nên biết, hiện nay, Linh mục Nguyễn Văn Lý đã và đang phục hồi tổ chức “ Áo trắng trong lòng dân tộc”, bởi tên cầm đầu Nguyễn Đan Quế.

“Lực Lượng Thiên Chúa Giáo Tiến Bộ”:

Cái gọi là “ Lực lượng Thiên Chúa Giáo tiến bộ” ra đời vào năm 1957, đã hoạt động một cách hợp pháp dưới nhiều danh xưng khác nhau. Từ năm 1957 đến 1960, “Lực lượng” này đã cho ra báo “Thông cảm” do sinh viên Thiên Chúa Giáo phụ trách. Năm 1962, có tờ “Sống Đạo” rồi đến các nhóm “Thẳng Tiến – Thanh-Lao-Công”. Năm 1967, nhóm này xuất bản hai cuốn sách: “Hòa bình cho con người” do “Linh mục” Trương Bá Cần, Trương Đình Hòe, Hồ Đỉnh soạn và “Tìm vế Dân Tộc” của Lý Chánh Trung.

Tháng 7-1969, sau khi tuần báo “Sống Đạo” bị đình bản, nên để tiếp nối các “Linh mục” Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Nghị cho ra đời nguyệt san “Đối Diện”. Tờ “Đối Diện” sau 10 số, đến số 11 và 12 đã bị tịch thu. Nói tóm lại, là “Lực lượng Thiên Chúa Giáo tiến bộ” là một trong những tổ chức ngoại vi của bọn việt-gian-cộng-sản.

Phật Giáo Ấn Quang:

Cho đến hôm nay, và mãi mãi, dù có ngụy biện đến cách nào chăng nữa, thì Phật Giáo Ấn Quang, cũng không bao giờ rửa sạch được những vết máu của hàng ngàn lương dân vô tội, đã chết dưới những bàn tay của băng đảng Phật giáo Ấn Quang, còn có tên khác là: “Việt Nam Phật giáo Xã Hội Đảng”.

Chúng ta chẳng cần nhìn đâu xa, mà chỉ cứ nhìn thẳng vào Thích Đôn Hậu: “Đệ tam Tăng thống” của Phật giáo Ấn Quang, với những “ thành tích” vấy máu đồng bào, bất kể nam-phụ-lão-ấu vào cuộc thảm sát Mậu Thân, 1968, tại cố đô Huế. Chính “công lao dâng đảng” này, nên Thích Đôn Hậu đã được bọn việt-gian-cộng-sản trao gắn cho những “huân chương, Huy chương” như:

“ Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc Lập, Huy chương Vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân”.

Kính mời quý độc giả hãy đọc lại bài: Tưởng Niệm Bốn Mươi Năm Cuộc Thảm Sát Mậu Thân: 1968-2008, vẫn còn lưu giữ trên trang điện báo: Hồn Việt: honviet.co.uk để hiểu được những bàn tay đẫm máu đồng bào của Thích Đôn Hậu, và của Thích Trí Dũng, mà chính y đã từng viết lại những hành vi cộng sản qua sách báo với tựa đề “ Tài Trí Việt Nam -Người xây dựng Nam Thiên Nhất Trụ tức Chùa một Cột tại miền Nam”.

Tại sao bà Trần Thị Lệ đã đặt tên cho con gái là Lê Thị Công Nhân?

Từ thuở xa xưa, người Việt Nam, dù là vua quan cho đến bần dân lê thứ, mỗi khi sanh con, họ đều có những ước vọng riêng cho các con của họ.

Như chúng ta đã biết Quốc Tổ của chúng ta là Hùng Vương cho đến vị vua cuối cùng, mặc dù chẳng làm được một công ích gì cho đất nước, nhưng cũng có niên hiệu là Bảo Đại.

Còn nói chung, thì hầu hết, người Việt Nam chúng ta, đều đặt kỳ vọng vào đứa con mới chào đời của mình bằng những cái tên, nếu con trai thì: Hùng, Dũng, Công, Đức, Trung, Chính, Nghĩa … v… v… Nếu là con gái thì: Thùy Mị, Đoan Trinh … hay lấy tên các loài chim, loài hoa để đặt tên cho con gái của mình.

Riêng bà Trần Thị Lệ, thì đã không chọn những cái tên như mọi người, mà đã đặt tên cho con gái của bà là Công Nhân. Một cái tên không có vẻ gì là con gái, mà nếu chỉ nghe qua cái tên, thì cứ tưởng đó là tên của một người phu khuân vác, lao động chân tay.

Vì trong suốt thời gian qua, kể từ lúc Lê Thị Công Nhân mới “ra tù” thì đã có quá nhiều bài viết cũng như thơ-ca của những cây bút tại hải ngoại đã ca tụng, bênh và chống, nên tôi cũng không thể ghi chép hết.

Tuy nhiên, tôi phải đề cập đến những bài kinh đã ca tụng Lê Thị Công Nhân như: Bùi Tín, thì gọi “Lê Thị Công nhân là hạt Ngọc … Hành quý …” và còn những câu kinh khác như: “Nhị kiều nước Nam … v…v…

Tôi đã theo dõi nhiều các trang báo, nên đã thấy ngay trên trang của Việt Tân, đã trịnh trọng với cái tựa đề: “Nghiêng Mình, Kính Ngưỡng Anh Thư Lê Thị Công Nhân”.

Vậy, trước khi nói đến nguyên do, mà bà Lệ đã đặt tên cho con, tôi lại phải diễn đạt cho đúng với cái ý của cái câu kinh trên của băng đảng Hoàng Cơ Minh, tức Việt Tân như sau:

Kính mời quý độc giả hãy cùng tưởng tượng cả băng đảng Việt Tân và những tên tay sai bồi bút, chúng đều không dám đứng thẳng người để nhìn Lê Thị Công Nhân, vì là “Thánh nữ”. Vì thế, bọn chúng đã phải: Nghiêng Mình, tự ngã rạp người xuống một bên, rồi mới dám: Kính Ngưỡng, tức Cung Kính Nhìn Lên “Thánh nữ”. Nhưng chẳng hiểu có phải vì biết có đảng Việt Tân và lũ tay sai đã và đang: “Nghiêng Mình, kính Ngưỡng ” nên sau khi “ra tù”, thì Lê Thị Công Nhân cứ mỗi lần đi đâu, kể cả khi đi vào nhà thờ cũng không mặc quần, mà chỉ thích mặc váy…

Tiếc rằng, tôi không có thời gian để vẽ thành một bức tranh, để minh họa cho mọi người thưởng lãm hình ảnh của một lũ “người” đang “Nghiêng Mình rồi mới dám “kính Ngưỡng” từ phía dưới ống trong chiếc váy của Lê Thị Công Nhân. Tôi chắc, nếu quý vị có óc tưởng tượng, thì sẽ hình dung ra được cái màn: “Nghiêng Mình, Kính Ngưỡng Anh Thư Lê Thị Công Nhân” này, nó thiệt là vui lắm đấy… Nào, hãy tưởng tượng đi, vui không quý vị???

Trở lại với cái tên Lê Thị Công Nhân, mà bà Trần Thị Lệ đã đặt cho con gái của mình:

Sau khi Cụ Việt Thường đã tiết lộ Lê Thị Công Nhân là con ruột của tên Đại việt gian Lê Đức Anh. Chính vì vậy, nên tôi cũng phải cố tìm thêm những nguồn tin khác. Và, rất may, vì tôi cũng đã tìm ra được manh mối như sau:

Theo một nguồn tin riêng, thì khi đã mang thai đứa con đầu lòng với Lê Đức Anh, bà Trần Thị Lệ vốn là một đảng viên cộng sản, đã từng có công cả với đảng, mà còn có công … hộ lý cho Lê Đức Anh, nên khi bà Lệ tỏ ý muốn ra Hà Nọi để viếng “Lăng Bác”, thì Lê Đức Anh cùng mấy tên đàn em thân tín đã sắp đặt cho một chuyến “vi hành” cùng với bà Lệ.

Khi ra Hà Nội, sau khi viếng “Lăng bác”, Lê Đức Anh đã đưa bà Trần Thị Lệ đi thăm Nhà Hát Lớn Hà Nội. Lúc này đã đổi tên thành: “Rạp Công Nhân”. Bà Lệ đã say sưa nhìn những vẻ đẹp cổ xưa của một kiến trúc kiểu Âu Châu, lại còn thêm cái tên mới là “Rạp Công Nhân”. Công Nhân, là giai cấp lãnh đạo. Vì vậy, bà Lệ đã quyết định đặt tên cho con là Công Nhân, dù là trai hay gái. Lê Đức Anh cũng thấy hợp với lòng của mình, nên cả hai đã đồng ý với cái tên: Công Nhân.

Từ Nhà hát lớn Hà Nội đến Rạp Công Nhân:

Nhà hát lớn Hà Nội, có tên đầu tiên là: Palace, được khởi công xây dựng vào ngày 07-06-1901. Hoàn thành vào năm 1911, theo phiên bản nhỏ của Opéra Garnier Paris, do các kiến trúc sư người Pháp: Broyer, Harlay. Phụ trách thi công chính là: Travary và Savelon.

Buổi chiếu phim đầu tiên vào đêm 22-9-1924. Sau năm 1954 đổi thành “Rạp Công Nhân”. Năm 1995 đổi thành “Nhà hát kịch Hà Nội”. Năm 2000, đã chính thức lấy lại tên cũ là: “ Rạp Công Nhân” tọa lạc tại số 42, Tràng Tiền, Hà Nội.

Ngoài ra, bọn việt-gian-cộng-sản cũng đã cho xây dựng thêm “Rạp Công Nhân” tại số 111, Cầu Đất, quận Ngô Quyền, Hải Phòng.

Tại miền Nam, cũng đã có “Rạp Công Nhân” tại số 30, đường Trần Hưng Đạo, phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, Sài Gòn.

Để quý độc giả đều thấy được cái tên “Công Nhân” đang có ở Việt Nam, nhân đây, tôi xin đưa vào bài viết với tấm hình của cái “Rạp Công Nhân” và nghe nói bọn việt-gian-cộng-sản sẽ còn xây dựng thêm những “Rạp Công Nhân” khác nữa, mà chính Lê Thị Công Nhân đã và đang khôi phục lại: “Công Nhân-Giai cấp lãnh đạo”.

Vì quá ít thời gian, nên tôi chưa có đủ những hình ảnh, song tôi sẽ cố gắng để cống hiến quý độc giả thêm với những hình ảnh mới của “Rạp công Nhân” tại Hà Nội và Sài Gòn, và các nơi khác.

Nhà Hát lớn Hà Nội. Sau 1954 đã đổi tên thành “Rạp Công Nhân”: Nơi từng lưu dấu bước chân “vi hành” của Lê Đức Anh và bà Trần Thị Lệ, lúc mang thai Lê Thị Công Nhân.

“Rạp Công Nhân”, tại số 111, Cầu Đất, quận Ngô Quyền, Hải Phòng.

Tại sao ngụy quyền Hà Nội vẫn chưa sụp đổ?

Người dân của miền Nam, đã từng chứng kiến, từng sống trong Thể chế Cộng Hòa trong tự do, nhưng cũng chỉ kéo dài không quá hai mươi năm. Tôi nói miền Nam tự do, bởi nếu không có tự do, thì làm sao Nguyễn Đan Quế lấy cớ đi tu nghiệp tại Pháp, vào năm 1968 đến 1974, để thành lập ra cái tổ chức “Hướng Về Đất Việt”, rồi sang Anh, sang Bỉ, để hô hào phản chiến, đòi Mỹ phải rút quân, nhưng khi trở về nước, Nguyễn Đan Quế vẫn không hề bị chính quyền Việt Nam Cộng Hòa làm khó dễ, để rồi đến ngày 30-4-1975, Nguyễn Đan Quế và Đoàn Viết Hoạt đã kéo cả đoàn sinh viên, học sinh, tay cầm cờ ngũ sắc của Phật giáo, tay cầm cờ của “Mặt trận giải phóng miền Nam” để đi đón rước cộng quân vào Thủ đô Sài Gòn.

Mặc dù thế, nhưng đã có rất nhiều người, trong đó có Linh mục Nguyễn Văn Lý cũng đã cam tâm làm tay sai cho tên việt gian Nguyễn Đan Quế. Bằng chứng là Linh mục Nguyễn Văn Lý đã giới thiệu những Lê Lợi, Lê Lai và Nguyễn Trãi, là những tên đã có trong “Tài Liệu Tuyệt Mật” của “Cao Trào Nhân Bản”. Nên biết, Nguyễn Đan Quế và cái gọi là “Cao Trào Nhân Bản” là tổ chức ngoại vi của bọn việt-gian-cộng-sản.

Tại hải ngoại, Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, bây giờ là băng đảng Việt Tân, nhóm “Cao Trào Nhân Bản”, chú phỉnh Nguyễn hữu Chánh… và lũ tay sai đã và đang giở nhiều trò bịp bợm, khủng bố lộ liễu, sau khi lừa gạt tiền và niềm tin của mọi giới trong tập thể người Việt tỵ nạn VGCS. Vì thế, nhằm gây dựng lại niềm tin, thống nhất ý chí để hỗ trợ đồng bào trong nước đứng lên lật đổ ngụy quyền VGCS đang nắm quyền cai trị trong nước, thì quả là một nan đề.

Tạm thay lời kết:

Người Việt tỵ nạn bọn việt-gian-cộng-sản tại hải ngoại, có lẽ nào đã quên đi những hành vi khủng bố, giết người lương thiện, cộng với những màn lừa bịp niềm tin và tiền bạc của đồng bào, với “Mười ngàn kháng chiến quân” vào những năm của đầu thập niên năm 1980. Bọn Hoàng Cơ Minh đã từng lừa bịp cả những cụ già đang sống nhờ vào tiền trợ cấp, khi chúng đã “Phát động chiến dịch Một vỉ thuốc cho kháng chiến quân”. Kính mời quý độc giả hãy đọc lại những bằng chứng lừa bịp này qua loạt bài: Vạch Mặt Bọn Cộng Sản Gian Manh Đang Núp Bóng Người Quốc Gia Tỵ Nạn.

Nhưng chỉ nói đến băng đảng Hoàng Cơ Minh, thì chưa đủ; bởi tên việt gian Nguyễn Đan Quế cũng từng thành lập và cầm đầu tổ chức “Hướng Về Đất Việt”, là tiền thân của tổ chức “Phật Tử Hướng Việt” hiện nay.

Sau ngày 30-4-1975, bạo quyền Hà Nội đã tô điểm cho Nguyễn Đan Quế thành người tù tới gần 30 năm. Và Nguyễn Đan Quế cũng đã thành lập ra băng đảng “Cao Trào Nhân Bản” là một tổ chức ngoại vi của Hà Nội. Nguyễn Đan Quế cũng đã từng kêu gọi “Quên quá khứ, xóa bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải” với bọn việt-gian-cộng-sản.

Chính vì vậy, chỉ có những kẻ ngây thơ, nếu không muốn nói là ngu xuẩn mới có thể tin những gì do hai băng đảng Hoàng Cơ Minh và băng đảng Nguyễn Đan Quế nói, mà hãy nhìn thẳng vào những gì mà hai băng đảng này đã làm trong quá khứ, cũng như hiện tại và trong tương lai. Chúng ta hãy vạch mặt chỉ tên những kẻ đã và đang tung hô: “ Nghiêng mình, kính ngưỡng Anh thư Lê Thị Công Nhân”, vì bọn chúng đã biết Lê thị Công Nhân là con ruột của tên Đại việt gian Lê Đức Anh. Chúng ta đã bị lừa bịp quá nhiều rồi. Giờ đây, chúng ta phải thật sáng suốt, chúng ta đừng bao giờ để cho bọn việt-gian-cộng-sản và lũ tay sai lừa bịp chúng ta một lần nào nữa cả.

27-4-2010

Lệ Tuyền

http://www.hon-viet.co.uk/LeTuyen_TuongNiemQuocHan3004_OnCoTriTan.htm

Nhan dinh ve bai Vo Dinh Chuong 8406 va LM Nguyen Van Ly (NB Viet Thuong – KN2000)

vo-dinh-chuong

Nhan dinh ve bai Vo Dinh Chuong 8406 va LM Nguyen Van Ly (NB Viet Thuong – KN2000)


LM Nguyen Van Ly Va Dang Thang Tien Cuoi


http://www.viddler.com/explore/freedom4vn/

Cai Chongguo: J’étais à Tiananmen

Tiananmen

Cai Chongguo: J’étais à Tiananmen

Le 3 juin au soir, une cérémonie de commémoration des 20 ans du massacre de Tiananmen a eu lieu au Trocadéro, à Paris. Parmi les participants (dont des personnalités comme Jack Lang ou Pierre Bergé) figurait Cai Chongguo, un dissident chinois qui a participé au printemps de Pékin en 1989 ; il vient de publier « J’étais à Tiananmen » édité par l’esprit du temps.

Lesinfos.com sont allés à sa rencontre, Cai Chongguo raconte son histoire et nous livre son analyse sur la situation politique actuelle de la Chine. Bien plus encore sur lesinfos.com

http://www.dailymotion.com/video/x9hx57_news

http://www.dailymotion.com/Lesinfos

Nhà Báo Việt Thường: Hiện nay Việt Nam có là Cộng-sản hay Tư Bản rồi? (Kỷ Nguyên 2000)

cong_san

Nhà Báo Việt Thường: Hiện nay Việt Nam có là Cộng-sản hay Tư Bản rồi? (Kỷ Nguyên 2000)

http://www.viddler.com/explore/freedom4vn/

súc vật thích đôn hậu súc vật thích quảng độ súc vật võ văn ái tay sai ăn cứt súc vật hồ chí minh

phat_giao_an_quang

súc vật thích đôn hậu súc vật thích quảng độ súc vật võ văn ái tay sai ăn cứt súc vật hồ chí minh

http://www.viddler.com/explore/freedom4vn/

KẾ “THANH ĐÔNG KÍCH TÂY” CỦA VIỆT TÂN – Trương Minh Hòa (tinparis.net)

viet_tan

TinParis. Như quý bạn đã theo dõi TinParis, từ trước đến nay, chúng tôi lúc nào cũng kêu gọi Cộng Đồng Hải Ngoại đừng quên là “Chiến Trường chính” chống CSVN hiện nay đang diễn ra ở Hải Ngoại chứ không phải ở trong nước vì , phải thành thật mà nói, là chúng ta không đủ khả năng và phương tiện để đương đầu cả 2 thế lực cùng một lúc ( Trung Cộng và bọn thái thú của chúng, tức Cộng sản Việt Nam).

Qua bọn tay sai của chúng như Băng Đảng Mafia Việt Tân, CSVG làm rùm beng tên tuổi những người ” chống đối cuội ” ở trong nước, qua sự thổi phòng của các cơ quan truyền thông của chúng từ quốc nội đến hải ngoại , để đánh lạc hướng chúng ta ( chiến thuật ” Dương Đông Kích Tây ” ) khiến chúng ta không đặt trọng tâm cuộc tranh đấu của chúng ta ở hải ngoại nữa .

Nơi nào Việt Tân cũng nhảy vào phá rối để nắm lấy quyền lãnh đạo. Vì sao ? Vì ” Ăn cơm chúa phải múa tối ngày “. Cán bộ Việt Tân có tiền rất nhiều một phần do tiền lường gạt đồng bào của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh ( và tiền thì đẻ ra tiền ) và tiền làm ăn của chúng với các tay ” mafia ” trong nước. Do đó , khi ” cán ngố ” VT lãnh tiền thì phải chứng minh với Hoàng Cơ Định là mình có làm việc nếu không thì bị thay thế. Có nhiều Trung Tâm gọi là ” nhân quyền ” cũng phải phịa ra tin tức từ trong nước y như là ” Kháng Chiến đã tấn công và chiến thắng CSVN ” như trước đây thôi. Ai còn lạ gì chuyện này ?

Ngoài ra, tại các nước Mỹ, Canada, Úc, Anh, Hòa Lan, Belgique, Đức v.v…chánh quyền yểm trợ TÀI CHÁNH dồi dào ( funds) cho những Hội Đoàn nào có tánh cách phục vụ cho các Cộng Đồng thiểu số vì họ có một chánh sách nâng đở Cộng Đồng để duy trì văn hóa, nếp sống riêng biệt của từng cộng đồng không như tại Pháp là phải ” hội nhập ” vào Xã Hội Pháp. Do đó, Việt Tân , vì có cán bộ LY KHAI, được Hoàng cơ Định trả tiền lương nên phải cố mà gở vốn lại.

Chổ nào có Việt Tân là có chia rẽ: ” Khi họ không nắm được thế chủ động, thì họ phá thối “. Tại sao ? Lý do dễ hiểu, là sau khi lường gạt đồng bào với Kháng Chiến Ma , Mặt Trận ” Hoàng Cơ Minh ” đã trở thành “Băng Đảng Mafia ” Việt giàu có và mạnh nhất ở Hải Ngoại sau khi ám sát vơ chồng ký giả Lê Triết của VNTP, ám toán hụt ký giả Cao thế Dung v;v., . Chỉ có bọn VT chủ trương dùng vũ lực hăm dọa để ” bịt miệng ” những người chống lại chúng như HaivanNews.com ở Sacramento, ConOngViệt , Phùng Ngọc Sa ở San Diego, Mạc Hồng Quang ở Philadelphia, v.v.”

Hiện giờ trong âm mưu đánh Mặt Trân Người Việt ở Hải Ngoại, đặc biệt là ở Mỹ, Việt Tân với sự chỉ đạo của VC đang dồn mọi nổ lực để đánh chiếm Miền Nam nước Mỹ nơi có đông cư dân người Việt nhất. Nắm được ảnh hưởng ở đây là chiếm được ảnh hưởng chánh trị đối với người Mỹ. CSVN qua Việt Tân đang tìm mọi cách để nắm lấy các cộng đồng ở Miền Nam như Houston, Nam Cali, Sacramento, San Diego, Los angeles, Long Beach chưa kể là ở các chổ khác như Philadelphia, Newyork, Washington, v;v..

Băng Đảng Việt Tân đang thao túng, tung tiền ra mua chuộc các lãnh tụ Hội Đoàn, nhất là các ông lãnh tụ loại ” lãnh tụ chùm gởi” ( thực lực không có chỉ nhờ VT dàn dựng lên ) như hiện nay chúng đã ” xỏ mũi ” cái gọi là ” Hội Đồng Liên Tôn ” để dàn dựng ” Cộng Đồng Nam Cali Việt Tân Việt Cộng của chúng ” , coi thường những người quốc gia tỵ nạn CSVN tại Westminster Nam Cali.

Chúng ta hãy tự hỏi :

1- Chúng ta có thể nào tin tưởng được Băng Đảng Việt Tân ( tức Mặt Trận Hoàng Cơ Minh ) khi chúng đã lường gạt lấy tiền Đồng Bào hải Ngoại với Mặt Trận Kháng Chiến Giả hay không ?

2- Chúng , Băng Đảng Việt Tân, đã coi Hồ chí Minh và Đảng CSVN là có công Thống Nhất Đất Nước VN , như vậy chúng ta có thể coi chúng cùng chiến tuyến hay không ? Như vậy có phải chúng coi Mỹ là kẻ Xâm lăng Đất Nước VN và CS có công , thì chúng ta, Công Dân VNCH chiến đấu cùng người Mỹ , là những kẻ ” ngụy ” a tòng kẻ xâm lăng, như vậy là chúng ta có tội vì chống lại CSVN ? Xin nhắc lại câu nói của cố TT Ngô Đình Diệm : ” Kháng chiến có công, Cộng sản có tội, Cộng sản cướp công kháng chiến “!

3- Những dân cử Mỹ gốc Việt do Việt Tân/ Việt Cộng yểm trợ kiểu Madison Nguyễn , Hoàng Duy Hùng , Andy Nguyễn , Trần Thái Văn , v.v.. đã từng có những hành động yểm trợ CSVG, liệu họ có giúp chúng ta chống CSVG hay không ?

4- Một mai khi Băng Đảng Việt Tân/ Việt Cộng, và các dân cử trá hình của chúng nắm lấy Cộng Đồng Hải Ngoại , liệu những người Quốc Gia còn có chỗ đứng để tiếp tục cuộc tranh đấu chống CSVG bán nước hay không ?

Tác giả Trương Minh Hòa trong bài viết dưới đây cho chúng ta thấy chiến thuật và sách luợc của chúng để ” thôn tính ” Cộng Đồng Hải Ngoại Người Việt Quốc Gia

KẾ “THANH ĐÔNG KÍCH TÂY” CỦA VIỆT TÂN – Trương Minh Hòa (tinparis.net)

Chuyện Tam Quốc với trường hợp của Tào Tháo trong trận đại bại ở sông Xích Bích là một bài học cần rút kinh nghiệm: Đại quân Bắc Ngụy với binh hùng tướng mạnh thế mà bị lọt vào kế “thanh đông kích tây”, do Khổng Minh bày ra: lợi dụng sương mù, cho thuyền giả, chất đầy rơm để ngụy trang như đại quân đang tấn công; thế là quân Tào lầm tưởng, nên bắn nhiều tên vào mục tiêu giả, bên kia thu được số tên cần thiết để chuẩn bị đánh một trận lớn; mặt khác, quân Tàu lại bị Từ Thứ, tay mưu sĩ, vì hoàn cảnh nên phải qui Tào, dùng” tương kế tựu kế” để thuyết phục Tào Tháo nghe theo, ghép các chiến thuyền lại thành một bè dài, vì quân lính vốn không quen với sóng lớn trên sông. Tất cả những sự kiện ấy được kết thúc bằng trận hỏa công, cuối cùng, làm tan tác đạo quân Tào.

Trong cuộc chiến Việt Nam, các phi công VNCH dùng trái sáng làm mục tiêu giả để thu hút hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7 do Liên Sô viện trợ, giảm bớt thiệt hại. Tại hải ngoại, đảng Cộng khỉ và tay sai là băng đảng Việt Tân đã và đang áp dụng kế” thanh đông kích tây” từ nhiều năm qua để cho người Việt hải ngoại cứ nhắm mắt đi theo mục tiêu giả mà tấn công, nên kết quả là Việt Cộng vẫn” thanh tâm trường cai trị” và nằm vùng, đón gió, du học, tay sai….tha hồ mà xâm nhập, hoạt động, khi chiến trường chính là hải ngoại bị bỏ ngỏ từ lâu, nên khi nhìn lại, thì giặc đã tràn ngập, đó là thế nguy của cộng đồng, nay đã rõ nét.

Những mục tiêu giả đã được bang đảng Việt Tân tung hỏa mù, núp dưới những chiêu bài nhạy cảm đầy lòng” thương dân mến nước”, được hầu hết mọi người quan tâm như:

– Đấu tranh cho dân chủ đa nguyên ở Việt Nam.
– Nhờ các nhà dân chủ cuội lật đổ dùm chế độ Cộng Sản.
– Phát huy tối đa mục tiêu giả, khó thực hiện là chống Trung Cộng, bảo toàn lãnh thổ.
– Vận động chính giới Hoa Kỳ Liên Âu để ép Việt Cộng đi vào quỷ đạo, trao trả dân chủ cho dân.
– Chủ trương tiếp cận với Việt Cộng trong nước qua làm ăn, cạnh tranh, để biến thị trường trong nước thành tự do canh tranh, như nghị quyết đối đầu, lộn con số 36 của Việt Cộng, thành nghị quyết 63.

Ngoài ra, đảng Việt Tân cùng tay sai áp dụng phương thức” vận động chính trị” bằng thắp nến cầu nguyện, tổ chức hội thảo về” bảo toàn đất tổ, bờ cõi” và có” mặt mạnh” là ra tuyên cáo, xin chữ ký, soạn thỉnh nguyện thư, xâm nhập vào các cộng đồng, tổ chức để dùng làm phương tiện thực hiện việc bàn giao hải ngoại trong vòng trật tự cho Việt Cộng qua chiêu bài” hòa hợp hòa giải” xây dựng đất nước…do đó, từ hơn 20 năm qua, chính Mặt Trận Gian Lận Kháng Chiến Việt Nam, các tổ chức râu ria như Hội Chuyên gia, Liên Minh Việt Nam Tự Do, nay là đảng Việt Nam Canh Tân Cách Mạng, các tổ chức vệ tinh khác mới ra đời như: cộng đồng người Việt Quốc Doanh, tập thể chiến sĩ VNCH quốc doanh….bom những liều thuốc an thần, mức độ gia tăng qua các sinh hoạt” nặng phần trình diễn, đúng như công thức” đấu tranh láo, báo cáo hay” làm liệt kháng hầu hết các hoạt động chống Cộng xâm nhập ngay tại nơi mà người Việt tỵ nạn sinh sống; đây là nguy cơ trước mắt, cần phải thức tỉnh càng sớm thì trong tương lai, hậu phương cuối cùng của người Việt sẽ rơi vào tay giặc lần nữa.

1-Đấu tranh cho nền dân chủ đa nguyên trong nước: chiêu bài và mục tiêu hoàn toàn hợp lý, vì hầu hết người Việt trong và ngoài nước, kể cả các cường quốc Tây Phương đều muốn nhìn thấy đảng Cộng Sản cáo chung, để nơi vùng đất nầy, người dân hưởng tự do, việc giao thương dễ dàng hơn. Tuy nhiên, việc đấu tranh nầy còn đòi hỏi nhiều yếu tố như:

-Phải có một lực lượng dân chủ, có thực lực như công đoàn đoàn kết ở Ba Lan vào thập niên 1980. Nhưng tại Việt Nam, từ thời những nhà ” phản phé” Nguyễn Hộ, Nguyễn Văn Trấn đến Trần Độ, Hoàng Minh Chính….và rần rộ là các khối 8406, 1906….không có lực lượng dân chủ nào ra hồn, có thực lực và nhất là nhiệt tâm; nhưng thay vào đó là các tổ chức cò mồi, với các mục tiêu làm lợi cho đảng như: Cái bẩy dụ những người yêu nước vào và bị bắt, trong khi các nhà dân chủ giả vẫn dùng” khổ nhục kế” để la làng là bị đàn áp, chận đường, lấy máy vi tín, cắt được thoại…nhưng thỉnh thoảng thấy các nhà dân chủ nầy đi ăn nhậu ở nhà hàng sang trọng, có rượu mạnh, máy điều hòa không khí, sau khi hoàn thành công tác chống đảng, đấu tranh cho dân chủ. Tạo phong trào đấu tranh dân chủ giả để các nước Tây phương lầm tưởng mà cấp viện thêm tiền, đầu tư. Dùng các nhà dân chủ dỏm như con tin, đảng giả vờ bắt bớ để các nước Tây Phương lưu ý, sau khi đạt yêu sách thì thả ra và còn được khen là:” Việt Nam có tiến bộ về mặt nhân quyền, tự do tôn giáo”…

-Người dân một lòng hạ quyết tâm đứng lên làm cuộc cách mạng thật sự. Do xã hội bị phân hóa bởi hệ thống công an khủng bố , tuyên truyền ru ngủ và bưng bít, nên lòng người bị xé ra từng mảnh vì quyền lợi và cuộc sống riêng tư. Một điều rất quan trọng là: Việt Cộng vô thần, vốn coi” tôn giáo là thuốc phiện, kẻ thù số một”, nhưng đảng quỷ đỏ nầy thường lợi dụng tôn giáo để giữ đảng; tôn giáo dễ trở thành công cụ cho đảng vô thần là Phật Giáo, thuyết luân hồi là cốt lõi trong tiến trình tu học, giải thoát của Phật Tử, nhưng khi qua tay quỷ đỏ Việt Cộng là đảng rất có lợi: qua lối” thuyết PHÉT” của hệ thống công an mặc áo cà sa, trở thành sư ông, sư bà, sư cô….lấy danh nghĩa” thuyết pháp” để bóp méo thuyết luân hồi, luật nhân quả như: Công an, cán bộ có tiền kiếp tốt, đừng chống lại, hãy nhẫn nhục trả quả để kiếp sau được sung sướng. Những tù nhân chính trị thuộc quân nhân cán chính miền nam, hay những người thuộc điền chủ, giàu có…bị tù đày, là do kiếp trước gây nhiều nghiệp báo, nên kiếp nầy phải trả quả….thật là nguy hiểm vô cùng.

Do đa số dân chúng thấm nhuần tư tưởng từ bi của Đức Phật, nên Phật giáo đã bị” thoái trào đạo pháp” sau hàng ngàn năm, do đám tu giả, thuộc TỨ DIỆU XÚ:” Gian, tham, dâm, ác”, thế là kinh Phật, thuyết nhân quả, luận hồi đã bị” du lươn hóa trụ”, tức là nhìn bề ngoài, Phật Giáo vẫn có chùa, sư, tụng kinh gõ mõ, ma chay….nhưng cốt lõi đạo Phật đã bị thay thế bằng những kẻ mượn đạo tạo tiền, biến kinh Phật thành công cụ làm giàu và nhất là ngày nay đảng Cộng Sản vô thần, lợi dụng Phật Giáo để giữ đảng khỏi sụp đổ; do đó, người ta ngao ngán và có người bất bình cho là:” nơi nào có chùa Phật là không có đạo Phật”. Trong nước, nhiều người tin tưởng luật nhân quả, thuyết luân hồi” theo định hướng xã hội chủ nghĩa” qua hệ thống tu quốc doanh, nên trong lòng vẫn:” thanh tâm trường nhẫn nhục” trước cường quyền, bạo lực để trả quả, chấp nhận chế độ Cộng Sản cai trị, thì dù cho các nước Tây phương có hối thúc, đổ tiền vào ngập cả nước Việt Nam, tình trạng độc tài, độc đảng vẫn không thay đổi, trái lại còn giúp đảng giàu, thêm phương tiện để tiếp tục gây thêm tội ác.

-Yếu tố ngoại yểm: chỉ là phụ thuộc, khi các nước dân chủ nhìn thấy dân chúng Việt Nam can đảm, muốn thay đổi chế độ, thì họ khuyến khích, giúp đỡ để cho tiến trình dân chủ mau thành đạt. Tuy nhiên, khi dân ta bị ru ngủ, một số an phận do chính sách xì hơi qua công thức” lấy kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” là giúp cho đảng cướp cầm quyền tránh được sụp đổ, do số người” an phận thủ thường” bằng lòng với chút thoải mái về đời sống do tiền tư bản đầu tư, thì ngày nhìn thấy dân chủ xa lắc xa lơi, vì trót nghe theo lời u mê.

Trong điều kiện không có hay không đủ thực lực, trước khối lượng quần chúng trong nước chỉ” vì ấu trĩ thờ ơ u tối, muốn an thân mà tiết máu xương” nên mục tiêu khó thành. Do đó, Việt Cộng nằm vùng và tay sai dùng” tương kế tựu kế”, phát động” mục tiêu giả” là đấu tranh cho dân chủ trong nước, để người Việt tỵ nạn hải ngoại bị” dắt tay nhau đi theo tấm bản chỉ đường qua mục tiêu giả” mà lơ là hải ngoại, để cho Việt Cộng xâm nhập vào cộng đồng qua nhiều ngõ ngách hợp pháp: di dân với diện thương mại, hôn nhân, du học ở luôn nhờ lợi dụng diện tay nghề, thầy chùa đỏ và linh mọp quốc doanh ra vào, di tu, ….do đó, quân số Việt Cộng càng gia tăng theo thời gia, mà sự thất bại ở San Jose vụ bãi chức nghị viên Madison Nguyên là báo động đỏ về nguy cơ:” giặc từ Hà Nội sang đây, bàn tay phá rối đồng bào hải ngoại” và đang trên đà” tiến vào cộng đồng, trận cuối là trận nầy”.

2-Vận động chính giới Hoa Kỳ, Liên Âu: để nhờ họ gây áp lực ép bạo quyền Việt Cộng phải trả lại dân chủ, tự do, nhân quyền, tôn giáo. Vị thế Việt Nam không thuận lợi bằng Miến Điện, vì phong trào dân chủ thành hình hơn 20 năm qua, có tổ chức qui cũ, được hậu thuẫn quốc tế qua nhân vật lãnh đạo là bà Aung San Suu Kyi, người đoạt giải Nobel hòa bình….thế mà các nước còn phải chào thua trước tập đoàn quân phiệt Miến. Do đó Việt Nam chưa có một tổ chức thống nhất, lại không có nhân vật nào lãnh giải Nobel hòa bình, dù từ lâu, băng đảng Việt Tân cố tình đánh bóng huề thượng nổi tiếng” biểu tình tại gia” làm ứng viên, nhưng hình như ủy ban cứu xét ở Na Uy cũng sáng suốt, nhất định không chọn lầm lần nữa như vụ Lê Đức Thọ và Kissinger. Cho nên, mục tiêu giả là” vận động Hoa Kỳ đưa vào, đưa ra danh sách CPC” nhiều lần như vở cải lương” Người Ven Đô”, nặng phần” hành chánh công quyền, văn từ ” hơn là hạ quyết tâm làm thay đổ chế độ. Việt Cộng nào ngán những tuyên cáo, cảnh cáo, đưa vào danh sách CPC, nên chúng không thèm quan tâm làm gì, chỉ cần đưa” phét ngôn viên” ra cảnh cáo Hoa kỳ, các nước Liên Âu:” chớ can thiệp vào nội bộ Việt Nam”, cứ thế mà phát huy.

Tuy nhiên, đây là lối dùng” mục tiêu vận động chính trị dỏm” để ru ngủ, đánh lừa người Việt hải ngoại, rồi từ đó đưa đến tinh thần cầu an là” đợi Mỹ bật đèn xanh”. Tuy nhiên có ai nhìn thấy văn bản của tổng thống, quốc hội Mỹ, bật đèn xanh không? Đây là hỏa mù mà gián điệp, nằm vùng, tay sai với băng đảng Việt Tân đưa ra, nhằm trong kế” thanh đông kích tây”, chúng thổi phòng những sự kiện như: phái đoàn Việt Cộng sang Mỹ, tướng Trần văn Trà, Phùng Quang Thanh…qua Mỹ, hạm đội Mỹ ghé Việt Nam, giới chức cao cấp quân sự Mỹ đến Hà Nội, Mỹ giúp Việt Nam huấn luyện… để tung hỏa mù: Mỹ và Việt Cộng càng đi gần nhau, và Mỹ muốn dùng Việt Cộng để ngăn chận Trung Cộng…tất cả đều là tin vịt, mục tiêu giả, vì sau những quan hệ thắm thiết giữa Việt Cộng và Mỹ nhìn thấy bên ngoài, thì Hà Nội đành phải mua hạm đội, tàu ngầm, máy bay của cựu quan thầy Liên Sô, chứ Mỹ có bán vũ khí cho Việt Công chưa?.

3-Tiếp cận với Việt Cộng để cạnh tranh, buôn bán: Để đối đầu với nghị quắc 36 tung ra hải ngoại, thì băng đảng Vịt Tiềm tung ra nghị-quặp 63, thật là” chống cộng theo tấm bản chỉ đường của bắc bộ phủ”. Mang tiền về giúp đảng làm giàu qua việc kinh doanh, là mục tiêu giả, biện minh cho mưu đồ” hòa hợp hòa giải” qua chủ trương” lao tư lưỡng lợi” nhằm mang tiền, khuyến khích người Việt hải ngoại mang tiền về nạp cho đảng, để chúng thu gom, mang ra nước ngoài tẩu tán.

4-Nhờ bàn tay các nhà dân chủ cuội, đa số là đảng viên” vô quyền” hay phục viên: Đây là những mục tiêu giả. Đa số những cán bộ phục viên, vô quyền từ phe cánh bị hất ra khỏi bộ máy đảng và nhà nước được băng đảng Việt Tân phong” quân hàm” là: nhà dân chủ, nhà đấu tranh, tù nhân lương thức….nhưng đây là đảng viên Cộng Sản, có khi là đấu tranh cò mồi, nhằm làm giảm áp lực dân chúng, khi các nhà dân chủ đấu tranh theo đơn đặt hàng, chính sách của đảng, trở thành thần tượng và dắt quần chúng theo lối” đấu tranh ôn hòa”, tức là” dùng bất bạo động đễ tháo gỡ độc tài”, là không bao giờ có được như Nga, Đông Âu, trái lại giúp đảng yên tâm cai trị.

5-Ủng hộ dân oan khiếu kiện: Dân oan đa số là người” có công với cách mạng” từ thời đánh Tây giành độc lập và” đánh Mỹ cứu nước”. Tức là lúc đương thời, có khi là những cán bộ quyền thế, hét ra lửa, mửa ra khói, nên trong thời gian còn” cỡi lưng heo nái, bắn nạn dàn thung”, có thể họ được đảng cướp và nhà nước ban thưởng cấp đất từ tài sản địa chủ, tư sản phản động bị tịch thu, chia chác, khai thác, thừa hưởng sau khi” cách mạng thành công”. Sau nầy khi hết quyền hành, thì bị đồng đảng thu hồi, nên dân oan mới dám chửi cán bộ tại chức ( phải là đồng đảng mới dám, chứ gia đình ngoài đảng, hay thuộc VNCH) có ai dám làm chuyện nầy? Cho nên hầu hết các cuộc đòi đất của dân oan khiếu kiện, thường thấy họ mang lá cờ ở sao vàng và hình của tên quốc tặc Hồ Chí Minh…có dân oan còn khẳng định: bọn cán bộ nây giờ kém đạo đức, chớ thời Hồ Chủ Tịch là đâu có chuyện nầy… điều nầy chứng tỏ phong trào dân oan khiếu kiện với bản chất chỉ là sự tranh giành gtài sản, đất đai giữa hai cánh đảng Việt Cộng: kẻ cầm quyền đè ép kẻ hết quyền hành. Do đó dân oan khiếu kiện không có lý tưởng, tinh thần dân tộc ( ngoài cái gọi là lý tưởng Cộng Sản, làm cách mạng, theo gương tên quốc tặc Hồ Chí Minh), nên dân oan kiểu đòi đất nầy không bao giờ làm được chuyện lớn” bảo nổi lên rồi” như Liên Sô, Đông Âu. Tuy nhiên, dân oan khiếu kiện được băng đảng Việt Tân” nâng cấp” thành đấu tranh dân chủ, đây cũng là mục tiêu giả để thu hút sự chú ý, nổ lực của người Việt hải ngoại” ủng hộ dân oan gốc cách mạng” đứng lên đòi đất, do đồng đảng cũ tịch thu.

6-Lái mục tiêu sang chống Trung Cộng: Dùng tình yêu nước để khai thác tối đa vấn đề chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải, hải đảo, dân đánh cá bị bắn, bắt, cướp…. để phát động người Việt hải ngoại đánh vào” mục tiêu xa vời” là chống Bắc Kinh; trong khi đó phớt lờ tập đoàn Thái Thú Hà Nội chính là nguyên nhân dâng, hiến, cắt đất, đảo, vùng biển và đưa Việt Nam vào vòng bắc thuộc thời đại. Trung Cộng là cường quốc ngày nay, nên không thể lập lại bài học” châu chấu đá xe” như thời Lý Thường Kiệt. Nhưng Việt gian và Cộng Sản lái sang chống Trung Cộng để lái quần chúng vào quỷ đạo” hòa hợp hòa giải” quốc-cộng đề huề, cùng chống Tàu, là rơi vào bẩy sập của Việt Cộng.

Những kế sách tung hỏa mù, thanh đông kích tây được gián điệp nằm vùng va tay sai hải ngoại tung ra, đánh lạc hướng cuộc chiến rất quan trọng ở hải ngoại, là chiến tranh gay go, nếu không thì trong tương lai, Việt Cộng có khả năng tiến chiếm từng cộng đồng, treo cờ đỏ, hình Hồ Chí Minh và cán bộ, công an tình báo…tràn ngập các cơ sở, hội đoàn, tôn giáo, lúc đó e là quá trễ để đối phó.

Do đó, chiến trường chánh của người Việt hải ngoại chính là nơi mình đang sống, chứ không phải là ở Việt Nam, vì chẳng lẽ hơn 86 triệu người trong nước, không làm gì để tự cứu mình, mà nhắm mắt, hả họng kêu gào với chỉ 3 triệu người hải ngoại về giải phóng, dành lại tự do dùm?.

Nhà đang cháy, thế mà ai lại ngu mà đi chửa cháy khu nhà khác chưa cháy?…An Dương Vương, sau khi lọt vào kế nội gián của cha con Triệu Đà, thất trận bỏ chạy. Sau cùng biết con mình là Mỹ Châu, rứt lông ngỗng trắng để chỉ đường cho quân thù, nên vua giết con, vì khám phá ra kẻ thù đang ngồi sau lưng mình. Chiến trường hải ngoại là do người Việt tỵ nạn hải ngoại đương đầu, nên muốn đời sống an cư lạc nghiệp, ổn cố cộng đồng, trước hết mọi người hãy cùng nhau vạch mặt chỉ tên, loại trừ nằm vùng, tay sai, là những thứ xâu mọt đang đụt phá tại nơi tạm dung. Tại hải ngoại, Việt Cộng nào thấy xuất hiện ( chỉ có ở sứ quán) nhưng tay sai là đám Việt Tân, có chủ trương rõ ràng:” coi đảng cướp Việt Cộng là thành phần dân tộc và tên Việt gian Hồ Chí Minh có công với đất nước”. Như vậy, ai mù mắt, điếc tai mới không nhìn thấy bộ mặt thật của đám Việt Tân mà nghe theo, ủng hộ. Chứ người tỵ nạn không bao giờ chấp nhận hai điều trên./..

Trương Minh Hòa
18.04.2010

http://tinparis.net/vn_index.html

súc vật lê thị công nhân súc vật nguyễn văn lý tay sai ăn cứt súc vật hồ chí minh

bi_ham_hiep_van_con_trinh

tran_thanh

Trần Thanh: Bị hãm hiếp vẫn còn trinh

súc vật lê thị công nhân súc vật nguyễn văn lý tay sai ăn cứt súc vật hồ chí minh

Trần Thanh: Bị hãm hiếp vẫn còn trinh, súc vật lê thị công nhân súc vật nguyễn văn lý tay sai ăn cứt súc vật hồ chí minh

Trần Thanh: Bị hãm hiếp vẫn còn trinh from sucvathochiminh on Vimeo.

suc vat le thi cong nhan suc vat nguyen van ly tay sai suc vat ho chi minh

suc vat le thi cong nhan suc vat nguyen van ly tay sai suc vat ho chi minh

Bị hãm hiếp vẫn còn trinh – Trần Thanh

TRƯỚC KHI VÀO TRUYỆN:

……………………………………..

Tình cũng khó theo thời cơm áo, khó

Ta dìu nhau đi dưới bóng nợ nần!

………………………..

Khăn tăm tối hãy ngang đầu quấn nốt

Quấn cho nhau, quấn bạo, quấn cuồng điên

Vòng sau cùng sẽ gặp quỷ SA TĂNG (Lê Thị Công Nhân)

Bởi hạnh phúc mơ hồ như Thượng Đế!

………………………………

Đời vốn không nương người thất thế

Thì thôi, Ô NHỤC cũng là danh!

………………………………

Những câu thơ trên do thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên sáng tác năm 1973. Bài thơ mang tựa đề “Hai hàng me ở đường Gia Long”, nội dung nhuốm màu bi quan, yếm thế, thụ động, buông xuôi, chấp nhận số phận nghiệt ngã, coi như mọi sự đều do Thượng Đế an bài!

Khi đề cập đến sự đau khổ của toàn dân tộc ta dưới ách cai trị của bọn việt gian cộng sản, nhiều người đã cho rằng, ấy là “mệnh trời” đã quy định như vậy! Chẳng hạn, con tắc kè Đinh Thạch Bích thường xuyên đề cập đến “thuyết Định Mệnh”: người Mỹ đã thay mặt cho “thuyết Định Mệnh”, quyết định cho bọn việt gian cộng sản được xuống cọp an toàn rồi, đừng có chống cộng nữa, vô ích!

Do bị ảnh hưởng bởi “thuyết Định Mệnh” nên nhiều người trong chúng ta đâm ra buông xuôi mọi chuyện. Thay vì tích cực hành động để chấm dứt kiếp nô lệ thì ngày đêm họ cầu mong Thượng Đế cứu giúp, nhưng Thượng Đế đâu không thấy, chỉ thấy quỷ Sa Tăng Lê Thị Công Nhân xuất hiện, trong vai “thánh nữ”, vị “cứu tinh” của dân tộc, mang màu sắc tôn giáo!

Chúng ta đang chiến đấu chống bọn việt gian cộng sản và đã chiến đấu ròng rã ba phần tư thế kỷ, từ năm 1945 đến nay. Chúng ta sẽ thua bọn chúng nếu chúng ta không thắng được trên mặt trận tôn giáo. Mặt trận tôn giáo là địa bàn hết sức quan trọng mà bọn giặc đã và đang triệt để khai thác. Ðó là nơi bọn cán bộ cộng sản đội lốt những nhà “tu hành” để bòn rút xương tủy của chúng ta và đâm chúng ta những nhát dao lút cán vào thấu tim gan, phèo phổi. Nhiều người đã bị chết mà vẫn không hiểu vì sao mình chết, ngược lại, còn cám ơn bọn chúng!

Hiện nay tại hải ngoại, bọn cán bộ cộng sản đội lốt tôn giáo đang hoạt động dày đặc. Có thể nói, khoảng 90 phần trăm những chùa và nhà thờ tại hải ngoại đều là những ổ rắn độc của bọn việt gian cộng sản. Ðó là những căn cứ địa hết sức an toàn của bọn chúng, nơi đó, chúng đã ra sức bòn rút máu tủy của chúng ta qua những chiến dịch “từ thiện”, và đồng thời thi hành nghị quyết 36, quyết tâm thôn tính toàn bộ cộng đồng người Việt tại hải ngoại, biến chúng ta thành những kẻ nô lệ như 85 triệu nô lệ ở trong nước!

Vì sao bọn giặc đã và đang thành công trên mặt trận tôn giáo? Trước năm 1975, bọn chúng đã thành công và bây giờ, vẫn bổn cũ soạn lại mà chúng ta vẫn cứ bị sa vào cạm bẫy?

Sở dĩ bọn giặc thành công vì chúng dựa vào các yếu tố sau đây:

1. Dựa vào sự ngu dốt chính trị của quần chúng

2. Dựa vào sự mê tín của quần chúng

3. Dựa vào lòng tham của quần chúng

Ngu dốt về chính trị chính là cứ thấy những thằng nào cạo đầu trọc, mặc áo cà sa là cứ cắm đầu cắm cổ vái lạy mà không hề dám tìm hiểu lai lịch, gốc gác của bọn chúng từ những cái lỗ nẻ nào chui ra? Cho đến bây giờ vẫn còn rất nhiều người chưa hề biết những tên sát nhân hết sức ghê tởm như Thích Ðôn Hậu, Thích Trí Quang là những tên cán bộ cộng sản thứ thiệt! Toàn bộ những “đức tăng thống”, đệ nhị, đệ tam, đệ tứ của Phật giáo đều là bọn cộng sản đội lốt!

Đúng ra, có thể nhiều người đã biết điều này nhưng không dám lên tiếng. Sự hèn nhát của họ cộng với sự ngu dốt chính trị của quần chúng đã là mảnh đất mầu mỡ hết sức thuận lợi cho bầy vi trùng ho lao sinh sôi nẩy nở để gặm nát hai lá phổi của toàn dân Việt!

Thế còn sự mê tín? Xin thưa, sự mê tín của quần chúng nằm ở chỗ, đa số đã hiểu rất sai về tôn giáo của mình. Tôn giáo vốn dĩ, từ hàng ngàn năm nay, đã bị vô số những bọn lưu manh lợi dụng, sửa đổi giáo lý, vẽ rắn thêm chân, làm cho nó khác đi rất nhiều so với những điều giảng dạy nguyên thủy của những đấng Cứu Thế hoặc Giáo Chủ. Lấy ví dụ, cốt lõi của đạo Phật là sự TỰ GIẢI THOÁT. Ðức Phật chỉ hướng dẫn phương pháp tự giải thoát, còn tự mỗi tín đồ phải thực hành để tự giải thoát cho bản thân mình. Cũng ví như Ðức Phật chỉ cho những người sắp chết đói, chết khát biết nên đi về hướng nào để gặp con suối, nơi đó có cá và cây cối. Và khi đến được con suối rồi thì chính bản thân những người chết khát phải tự múc nước mà uống, muốn ăn trái cây thì tự họ phải trèo lên cây hái trái. Ðức Phật không thể “ăn giùm” hoặc “uống giùm” cho bất cứ người nào!

Tương tự như vậy, muốn thoát kiếp nô lệ thì chính chúng ta phải đứng dậy lật đổ chế độ cộng sản chớ không thể “biểu tình tại gia”, nằm trốn dưới gầm giường trùm mền mà tự nhiên chế độ cộng sản bị sụp đổ! Người Mỹ không thể chống cộng giùm chúng ta, Liên Hiệp Quốc cũng chỉ gãi ghẻ và những hình bóng “đấng cứu thế” Góc Ba Chớp Việt Nam cũng chỉ là hoang đường!

Chế độ của bọn việt gian cộng sản sẽ không bao giờ tự hủy hoại, tự sụp đổ như tên điếm chính trị Đinh Thạch Bích đang ra sức tuyên truyền trên diễn đàn paltalk và tờ điện báo VietNam Exodus. Đinh Thạch Bích là tên lưu manh chính trị, khoác áo “người quốc gia” để lừa bịp đồng bào. Sự nguy hiểm của hắn cũng không thua gì Ali Baba Nguyễn Chí Thiện, “linh mục” Nguyễn Hữu Lễ hoặc “giáo sư” đại học Đặng Văn Nhâm!!!

Thế nhưng, như đã nói trên, vì mê tín và tham lam cho nên đã có rất nhiều người làm vô số điều ác rồi cứ đến chùa bỏ tiền vào thùng “phước sương”, hy vọng rằng tội ác của họ sẽ được xóa hết! Ðây chính là hành động mình khát nước mà lại nhờ Ðức Phật uống nước giùm! Giả sử, chúng ta thèm ăn phở thì chính chúng ta phải chịu khó đi đến tiệm phở. Không có người nào điên khùng tới mức, nói là:” Anh ơi, chị ơi, tôi đang thèm phở quá nhưng bận việc không đi được. Anh chị có đi ăn phở thì nhớ ĂN GIÙM TÔI một tô cho tôi được no bụng nhé!”

Ðó là lý do vì sao đã có những kẻ đi ăn cướp nhà băng được một triệu đô la rồi đem mười ngàn đô bỏ vào thùng “phước sương” ở chùa để làm “từ thiện”!

Sự mê tín của quần chúng được thể hiện qua rất nhiều khía cạnh, và chính nhờ đó, bọn cán bộ cộng sản – công an đầu trọc – đã và đang ung dung sống một cách huy hoàng như những ông vua trong những ngôi chùa nguy nga như những cung vàng điện ngọc, có đầy đủ những cung tần mỹ nữ phục vụ!

Sự mê tín đã đẻ ra lòng tham, hay nói theo kiểu cộng sản, hai cái này có mối quan hệ biện chứng! Hầu như ai đi đến chùa là cũng mong CẦU ÐƯỢC MỘT ÐIỀU GÌ ÐÓ. Cầu được danh, cầu được lợi, cầu được trúng số, cầu được tình duyên suông sẻ ..v..v… Và ai sẽ là người “đại diện” cho Ðức Phật để gia hộ độ trì cho các phật tử? Chính là quý “thầy”, tức những tên công an đầu trọc chớ còn ai vào đó! Chính vì vậy mà đôi khi các tín đồ sùng bái quý “thầy” tới mức, nếu “thầy” bảo ăn cứt, họ cũng không dám từ chối!

Tất cả những điều Ðức Phật dạy, họ đã quên hết, hay nói cho đúng, họ học giáo lý như những con vẹt, học mà không bao giờ chịu suy gẫm và thực hành. Nếu may mắn, có những người học-hiểu, thì oái oăm thay, những kẻ này không bao giờ dám dùng sự hiểu biết của mình như tấm kính chiếu yêu để nhìn rõ chân tướng của những tên công an đầu trọc, như “đại đức”, “thượng tọa”, “hòa thượng”! (học-hiểu mà không học-hành là đồ bỏ!)

Cứ như thế, từ năm này sang năm khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, nếu chúng ta không có can đảm ÐỂ TỰ GIẢI THOÁT thì chín mươi triệu dân Việt sẽ mãi mãi làm nô lệ!

Muốn thoát kiếp nô lệ, chúng ta phải mạnh dạn lột mặt nạ của những tên công an đầu trọc và đưa bọn chúng lên giàn hỏa thiêu …..

Câu chuyện sau đây đáng để chúng ta suy gẫm. Xin mời quý vị theo dõi ….

* *

*

Nàng là thiếu nữ 22 tuổi, sinh ra và lớn lên tại nước Mỹ. Cha mẹ nàng là người Việt nên nàng có tên Việt Nam là “Thắm”, còn cái tên Mỹ “Tracy” chỉ dùng khi nàng đi học. Thắm là sinh viên năm thứ tư chuyên ngành về hóa học, sắp sửa ra trường. Nàng là sinh viên xuất sắc, biết đọc viết và nói tiếng Việt rất thông thạo. Tuy sinh trưởng tại Mỹ nhưng cái gốc Việt Nam của nàng đã được vun bồi khá đầy đủ. Ðây là công lao rất lớn của cha mẹ nàng, tuy xuất thân từ giới bình dân, lao động nhưng không bao giờ quên cội nguồn dân tộc. Cha mẹ nàng có ba người con, Thắm là trưởng nữ, rất hiền ngoan, học rất giỏi cho nên hai ông bà cưng quý nàng như một bảo vật. Một lý do nữa, Thắm là một cô gái sắc nước hương trời, hoa ghen thua “Thắm”, liễu hờn kém xanh, là niềm tự hào lớn cho cả gia đình nàng và có lẽ cho cả cộng đồng người Việt tại tiểu bang Texas. Nhiều người đã đến xúi dục cha mẹ nàng, cho Thắm đi thi hoa hậu để kiếm “danh và lợi”, theo đúng lời dạy của đại lão hòa thượng Thích Quảng Ðộ* nhưng cha mẹ nàng đã gạt phắt đi. Con gái mà đi thi hoa hậu thì sớm muộn gì cũng biến thành một loài đĩ công cộng, bị những bọn lưu manh thương mại lợi dụng, và không khéo cuộc đời sẽ bị kết thúc một cách bi thảm!

Tuy đang sở hữu một viên ngọc quý nhưng cha mẹ Thắm lúc nào cũng lo ngay ngáy trong bụng, nhất là nàng đã đến tuổi cần phải lấy chồng. Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân nhưng “chốn ba quân” nào mới được chứ, xã hội bây giờ rất phức tạp, bọn ma cô, lưu manh, điếm đàng nhiều như ruồi ở khắp mọi nơi, lơ mơ là giao trứng cho ác! Cha mẹ Thắm thường bàn tính với nhau như sau:

Vợ: – Anh à, tụi mình đã thống nhất với nhau, con gái mình phải lấy chồng là người Việt. Em không thích con mình lấy Mỹ đen hay Mỹ trắng hay Mễ Tây Cơ, để rồi nó bị ảnh hưởng lối sống Mỹ, tụi mình sẽ mất con!

Chồng: – Ðúng! Bởi vậy, anh đang nghĩ nên cho con mình đến sinh hoạt trong những tổ chức của cộng đồng người Việt để nó có điều kiện kiếm chồng là người Việt!

Vợ: – Anh à, em thấy hiện nay có mấy tổ chức của người Việt quốc gia như “Ðoàn Thanh Niên Phan Bội Châu”, “Tuổi Trẻ Lên Ðường”, “Tuổi Trẻ Tiếp Bước Cha Anh”, “Ðoàn thanh niên Hưng Việt”, “Đoàn Thanh Niên Cờ Vàng” ..v..v.. Ðây là những tổ chức chống cộng, có nội quy sinh hoạt rất đàng hoàng, có cả đồng phục nữa, toàn là những thanh niên trí thức ở hải ngoại tham gia. Có lẽ mình nên cho con nó tham gia, một công đôi chuyện, vừa ích nước lợi nhà, vừa có cơ hội kiếm được tấm chồng đàng hoàng!

Chồng: (giật nảy người như bị điện giật)

– Ấy chết! Em không biết gì sao? Giao trứng cho ác! Ðó là những tổ chức do đảng cướp Việt Tân dựng lên, dưới sự chỉ đạo của bọn việt gian cộng sản! Con gái mình vào đó là tàn mạt cuộc đời! Có thể nói một trăm phần trăm tất cả những tổ chức “giáo dục tuổi trẻ” hiện nay tại hải ngoại đều là do bọn việt gian cộng sản núp trong bóng tối chỉ đạo! Tụi nó muốn biến giới trẻ tại hải ngoại thành những tên nô lệ ngu đần chỉ biết mù quáng tin tưởng vào bác và đảng, giống như những tổ chức như “Ðoàn thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh” và “Ðội thiếu niên tiền phong” ở trong nước!

Vợ: – Hay là mình cho con nó tham gia mấy tổ chức từ thiện, chuyên đi làm việc phước đức?

Chồng: (lắc đầu thở dài ngao ngán)

– Anh đã tìm hiểu rất kỹ rồi. Toàn bộ những tổ chức “từ thiện” tại hải ngoại đều là do bọn cướp Việt Tân và bọn việt gian cộng sản lãnh đạo! Con gái mình mà vào đó là tan nát đời hoa, là tự nguyện đi làm nô lệ cho bọn giặc! Nếu em xem băng Thúy Nga Paris, ở cuối cuộn băng có xuất hiện một thằng chó đẻ khoác áo “linh mục”, kêu gọi đồng bào góp tiền để giúp những người “nghèo” ở Việt Nam! Toàn bộ số tiền quyên góp đó sẽ chui vào túi bọn giặc, đó là lý do vì sao hiện nay bọn cộng sản đã trở nên giàu nứt vách, mồi thuốc lá bằng giấy bạc 100 đô, mỗi khi đi ỉa thì tụi nó dùng giấy bạc NĂM TRĂM ÐÔ để chùi đít!!!

Vợ: – Còn mấy đoàn thể dành cho tuổi trẻ do nhật báo Người Việt và đài truyền hình Sinh Bắc Tử Nam tổ chức thì sao anh?

Chồng: (lắc đầu quầy quậy)

– Ðó là hai cái Ổ RẮN ÐỘC của đảng cướp Việt Tân và bọn việt gian cộng sản, em không biết hay sao? Nội em nghe mấy chữ “sinh bắc tử nam” là biết rồi! Tụi nó là rắn độc nhưng đã khéo léo hóa trang thành những con lươn vô hại, hiền lành! Thằng chó đẻ nào cũng khoác áo “người quốc gia chống cộng” nhưng thực chất lại là cộng sản thứ thiệt!

Vợ: (tỏ vẻ thất vọng)

– Như vậy thì còn chỗ nào cho con mình sinh hoạt nữa? Không lẽ mình cứ giam nhốt nó mãi trong nhà để nó bị ế chồng?

Chồng: (nét mặt rất buồn bã, u sầu)

– Anh nói thiệt với em, đôi khi anh cảm thấy hết sức buồn chán và thất vọng. Có thể nói hiện nay thiên la, địa võng của bọn việt gian cộng sản đã giăng ra khắp nơi tại hải ngoại. Giới trẻ tại hải ngoại như những con chim non hầu như không còn lối thoát, đâm đầu vào bất cứ chỗ nào cũng đều là hang ổ rắn độc của bọn giặc! Tổ chức nào cũng trương lá cờ vàng ba sọc với hình năm vị tướng đã tuẫn tiết hồi năm 1975 nhưng thực chất lại là ổ rắn độc của cộng sản! Nói đâu xa, chẳng hạn như đài phát thanh Việt Nam Hải Ngoại. Sáng nào con mẹ giám đốc Lưu Lệ Ngọc cũng kêu gọi đồng bào “nghiêm chỉnh chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa” nhưng đến tối thì nó đi dự tiệc với mấy thằng cán bộ chó đẻ trong tòa đại sứ việt cộng! Nói đâu xa, tờ điện báo VietLand thường xuyên treo cờ Việt Nam Cộng Hòa, thường xuyên in hình năm vị tướng tuẫn tiết năm 1975, rồi cả hình các chiến sĩ hải quân VNCH đã hy sinh trong trận chiến Hoàng Sa năm 1974, nhưng thực chất bọn chó đẻ này chính là những tên chó săn, tay sai của việt gian cộng sản! Bọn chúng thường ngụy biện rằng tờ báo của chúng là diễn đàn “dân chủ, đa chiều” nhưng bọn chúng chỉ đăng một vài bài “chống cộng” (dỏm) làm kiểng để ngụy trang, che mắt, còn 95% những bài viết khác đều là những bài tuyên truyền, có lợi cho bọn giặc! Nói thiệt với em, nếu bọn chúng mà dám đăng bài của những người chống cộng thứ thiệt thì anh sẽ tình nguyện …. ăn cứt chớ không thèm ăn cơm nữa!

Vợ: (cặp mắt chợt bừng sáng)

– Anh à, em nhớ ra rồi. Tại sao mình không cho con mình đến chùa sinh hoạt, làm công quả? Tụi mình là phật tử thuần thành, cho con mình đi theo con đường “tu tại gia” là rất hợp lý. Biết đâu, nhờ đến chùa làm công quả, nhờ ơn Phật tổ, mà con mình kiếm được một tấm chồng xứng đáng!

Chồng: (nét mặt rạng rỡ)

– À, phải rồi. Em nói đúng. Anh đã quên khuấy đi môi trường tôn giáo chính là nơi rất lành mạnh để giáo dục con người! Cám ơn em đã có ý kiến này rất hay!

Vợ: – Theo em biết, ở chùa hiện nay đang có nhiều đoàn thể dành cho các gia đình phật tử, chẳng hạn như gia đình phật tử Long Hoa, Quảng Ðức, Lý Công Uẩn ..v..v.. Mình cho con Thắm tham gia vào những đoàn thể này là rất phù hợp!

Chồng: (vỗ đùi đánh đét)

– Phải rồi, đúng quá! Vậy mà hồi giờ anh nghĩ không ra! Thôi, ngày mai mình đưa con đến chùa, xin cho nó gia nhập gia đình phật tử!

Thế là sau đó, cha mẹ Thắm đã đưa nàng đến một ngôi chùa lớn nhất tiểu bang Texas để xin cho nàng được gia nhập đoàn thể gia đình phật tử. Hai ông bà rất yên tâm vì đây là môi trường tôn giáo, chắc chắn là không có những bàn tay nhám nhúa, tàn độc của đảng cướp Việt Tân và bọn việt gian cộng sản thò vào. Kể từ đó, cô Thắm được phát một bộ đồng phục màu lam và trở thành đoàn viên của gia đình phật tử. Chủ nhật hàng tuần, cô chăm chỉ đến chùa học giáo lý và làm công quả. Nhờ giỏi tiếng Anh lẫn tiếng Việt, lại là người trí thức nên cô được các anh huynh trưởng và quý thầy cô hết sức quý mến. Tính tình của Thắm lại rất ngoan hiền, chăm chỉ học giáo lý để thấm nhuần Phật pháp nên ai cũng thương mến. Và có lẽ, đặc biệt nhất, là cái nhan sắc “Tây Thi” của nàng đã làm mọi người mê mẩn, càng thương mến nàng hơn. Nhan sắc của nàng vốn được nuôi dưỡng bằng bơ sữa của Mỹ chính cống từ nhỏ đến lớn mà mấy con đĩ hoa hậu Hải Phòng ở trong nước không bao giờ có thể sánh kịp.

Ðược sinh hoạt trong gia đình phật tử, Thắm cảm thấy vô cùng thích thú vì nàng có dịp được mở mang kiến thức và quen nhiều bạn mới. Có điều Thắm hơi e ngại vì có một vài anh “huynh trưởng” mặt mũi trông rất bậm trợn tựa như du đãng bến xe, nói rặt giọng bắc Hải Phòng. Nàng đã loáng thoáng nghe một vài lời xầm xì rằng những “huynh trưởng” này chính là những đảng viên cộng sản, vượt biên qua ngã Hồng Kông, được cài vào chùa để hoạt động! Tuy nhiên, Thắm vốn là người kín đáo, thủ khẩu như bình, giả câm giả điếc để được an toàn tu học!

Một hôm, một tên huynh trưởng việt cộng nói với Thắm:

– Chị Thắm, thầy hòa thượng trụ trì cần mời chị lên để …. làm việc!

Thắm không hiểu hai chữ “làm việc” nên hỏi lại:

– Anh nói sao, em không hiểu?

Huynh trưởng việt cộng giảng … “pháp”:

– Nói chung trong thời gian qua, chúng tôi thấy chị phấn đấu tốt, học tập tốt và nàm công quả tốt nên đã kiến nghị lên thầy trụ trì giao cho chị nàm công tác quản ní thư viện!

Từ khi sinh hoạt ở chùa, Thắm chỉ được trông thấy thầy trụ trì có một vài lần. Nghe nói thầy là đại lão hòa thượng, đã trên tám mươi tuổi, đi tu từ khi ông nội của nàng vừa mới …. chào đời! Tuy đã lớn tuổi nhưng trông thầy rất quắc thước, dáng đi và những động tác vẫn còn cứng cáp, nhanh nhẹn. Thầy chỉ xuất hiện làm chủ lễ trong những buổi lễ lớn, ngoài ra, hàng ngày thầy nhập thất, muốn gặp thầy phải qua ba bốn lớp đệ tử canh gác cửa! Thắm cũng đã nghe loáng thoáng những lời xầm xì rằng thầy là đảng viên cộng sản từ hồi năm 1945 và thầy vừa mới về Việt Nam tham dự đại hội việt kiều!

Sau khi làm “công tác tư tưởng” xong, tên huynh trưởng việt cộng dẫn Thắm lên gặp thầy trụ trì. Lần đầu tiên được đứng đối diện với thầy trụ trì, Thắm không khỏi “run như run thần tử thấy long nhan”. Thầy trụ trì tuy đã ngoài tám mươi, da mặt đã bị “xếp li” nhiều nhưng đỏ au và bóng lưỡng, chứng tỏ thầy được hấp thụ chất bổ rất nhiều. Ðặc biệt, thầy có cặp lông mày chổi xể rất rậm rạp, đã trổ màu bạc trắng như cước và cặp lông mi cũng đều trắng bạc, khiến bất cứ người nào mới thoạt nhìn cũng có ý nghĩ thầy giống như … thần “Bạch Mi”!

Căn phòng riêng của thầy vừa là nơi làm việc và cũng là phòng ngủ. Ðiều đầu tiên đập vào mắt Thắm khiến nàng vô cùng kinh ngạc là ngay trong phòng có treo một tấm hình …. bác Hồ và một lá cờ đỏ sao vàng! Phía dưới lá cờ là ba khung hình lộng kiếng, có ghi mấy giòng chữ thật lớn như: “Huân chương chiến công hạng nhì”, “Huân chương Ðộc Lập”, “Huân chương đại đoàn kết dân tộc”. Linh tính báo cho Thắm biết có một cái gì đó không ổn. Tại sao phía bên ngoài chùa thì treo cờ vàng ba sọc còn bên trong này thì treo cờ việt cộng? Thắm đã từng tham gia và chứng kiến nhiều cuộc biểu tình, nơi đó người ta đốt lá cờ máu và đốt hình Hồ Chí Minh. Nàng hiểu đại khái đó là những cái gì tượng trưng cho những tội ác hết sức ghê tởm, tựa như bọn khủng bố hoặc bọn phát xít hồi đệ nhị thế chiến! Vậy thì tại sao, tại sao lại có điều nghịch lý đến như vầy, Thắm thoáng có một dấu hỏi trong đầu.

Thầy trụ trì đang ngồi bật ngửa trên ghế, phì phèo điếu thuốc lá. Phía sau lưng thầy là một chú tiểu đang ra sức đấm bóp. Vừa trông thấy Thắm vào, thầy khoát tay ra hiệu cho chú tiểu và tên huynh trưởng việt cộng lui ra ngoài. Thầy chỉ tay vào chiếc ghế, nói với Thắm:

– Ngồi đi con!

Thầy có giọng nói rổn rảng, âm vực khá mạnh, đó là lý do vì sao đôi khi thầy thuyết pháp tại chánh điện, trước hàng ngàn phật tử mà không cần dùng máy phóng thanh! Thắm bẽn lẽn ngồi xuống ghế. Nàng vừa e thẹn, rụt rè, vừa cảm thấy hãnh diện vì không ngờ hôm nay nàng được ngồi đối diện với một vị đại lão hòa thượng, được giới tín đồ xưng tụng như “đấng giáo chủ” tại hải ngoại! Tuy nhiên, Thắm cũng hơi lo trong bụng, không biết thầy cần gặp mình có chuyện gì? Thầy trụ trì đích thân rót một tách trà rồi nở một nụ cười hiền từ, thân thiện:

– Con uống trà đi. Dạo này việc học giáo lý của con có tốt không?

Thắm đáp lí nhí:

– Thưa thầy, con học được!

Thầy hỏi tiếp:

– Mấy anh huynh trưởng giảng bằng tiếng Việt, con có hiểu không?

– Thưa thầy, hiểu!

Thầy đưa ra nhận xét:

– Thầy biết các con sinh đẻ bên Mỹ, tiếng Việt không rành cho nên nhiều con gặp khó khăn trong việc học giáo lý. Thầy đang cố gắng đào tạo những anh huynh trưởng có khả năng giảng giáo lý bằng song ngữ Anh-Việt nhưng chưa tìm được. Thật là may mắn, thầy nghe quý phật tử nói con thông thạo cả hai ngôn ngữ Việt-Mỹ. Con cố gắng học để trong tương lai làm công tác giảng dạy giúp cho Giáo Hội nghen. Phước đức nhiều lắm đó!

Ðược thầy khen, Thắm đỏ bừng mặt sung sướng. Ðúng là nàng giỏi tiếng Việt nhưng trong giáo lý có nhiều từ ngữ phức tạp, khó hiểu quá. Nghe nói đó là những từ ngữ bắt nguồn từ tiếng Tàu. Chẳng hạn như Thắm thường nghe anh huynh trưởng giảng thao thao bất tuyệt:

– …. trong các hạnh bố thí, có ba loại bố thí quan trọng nhất, đó là “Pháp thí, tài thí và vô úy thí” …

Pháp thí và tài thí thì Thắm đã hiểu, còn “vô úy thí” là gì thì nàng mù tịt! Có lần Thắm đã hỏi anh huynh trưởng nhưng anh ta phớt lờ, viện cớ “bận việc”, chắc có lẽ anh ta cũng chẳng hiểu! Thế là Thắm tự nhủ:

– Thật may quá, sẵn dịp này được gặp thầy thì mình nhờ thầy giảng cho thế nào là “vô úy thí”!

Nghĩ vậy, nên Thắm rụt rè hỏi:

– Thưa thầy, con không hiểu “vô úy thí” là gì. Xin nhờ thầy giảng cho con!

Thầy hòa thượng cười hiền từ:

– Giáo lý Phật Pháp nó vô cùng lắm. Nó thay đổi theo thời gian, tùy hoàn cảnh mà ta áp dụng! Ðể từ từ rồi thầy cắt nghĩa cho!

Nói xong, thầy nhìn hau háu vào khuôn mặt trắng hồng, đẹp tuyệt vời của Thắm khiến nàng e thẹn cúi đầu nhìn xuống sàn nhà. Tiếp theo, thầy hòa thượng đủng đỉnh tiến lại chiếc giường nệm của thầy và ra lệnh:

– Con lại đây, thầy có chuyện cần hỏi con!

Nghe thầy ra lệnh đến bên “long sàng” của thầy, tự nhiên Thắm sợ hãi phát run. Bản năng tự vệ của nàng bùng dậy, nàng muốn chống lại mệnh lệnh nhưng không có đủ can đảm. Ðể tự trấn an mình, Thắm tự nhủ:

– Mình đang nói chuyện với thầy đại lão hòa thượng mà. Thầy đáng tuổi …. ông cố nội của mình. Không sao đâu!

Nghĩ vậy nên Thắm rụt rè, co ro cóm róm tiến đến, ngồi nơi mép giường, diện đối diện với thầy hòa thượng. Tự nhiên linh tính của nàng báo cho nàng biết có một điều gì đó không được bình thường mặc dù nàng đã hết sức tự trấn an. Nàng khẽ liếc mắt nhìn trộm “long nhan” của thầy thì tự nhiên nàng thấy kinh sợ quá. Tất cả những nét hiền lành, đạo cao đức trọng, từ bi độ lượng của một vị chân tu trên bảy mươi tuổi đạo, đã hoàn toàn biến mất. Nhường chỗ vào đó là cặp mắt hau háu đầy dục vọng như mắt của con chó sói vừa trông thấy con cừu non. Bằng giác quan thứ sáu, Thắm cảm nhận được sự thèm khát nhục dục qua ánh mắt và sắc mặt của “thầy” hòa thượng. Nàng cảm nhận được hơi thở của con chó sói đang gia tăng cường độ, ánh mắt của nó như những mũi dao bén nhọn đang săm soi vào lồng ngực của nàng. Bản năng tự vệ bùng dậy, hốt nhiên Thắm lấy hai tay che lồng ngực của mình. Tất nhiên, tất cả những sự hốt hoảng của Thắm đều không qua được cặp mắt lão luyện của con chó sói. Gã hòa thượng ôn tồn, nói bằng giọng nhỏ nhẹ như để trấn an Thắm:

– À, thầy định hỏi con một chuyện. Như con biết, sự học phải luôn luôn đi đôi với hành. Con đã học về đức bố thí, vậy từ trước tới nay,có bao giờ con đã bố thí cho bá tánh điều gì chưa?

Thắm lí nhí đáp:

– Thưa thầy, “Pháp thí” thì con không có khả năng để giảng “Pháp”. Còn “tài thí” thì con cũng chưa làm được vì còn đang đi học nên không có … tiền!

Gã hòa thượng bật cười trước sự ngây thơ, thật thà của Thắm:

– Như vậy là con không có cái gì để bố thí cho bá tánh, như vậy thì làm sao tu đạt được chánh quả?

Thắm cảm thấy rất bối rối và mặc cảm trước sự nhận xét này của “thầy” hòa thượng. Ðúng vậy, nàng chẳng có cái gì để bố thí cho bá tánh, con đường tu học của nàng chắc chắn sẽ còn nhiều gian nan lắm! Người Mỹ cũng thường nói “give and take”. Có cho thì mới có nhận. Mình phải làm phước cho bá tánh thì những điều phước đức nó mới tự nhiên tìm tới mình. Ðây là điều hiển nhiên gần như những định luật trong khoa học vật lý! Từ chỗ bối rối, mặc cảm, Thắm cúi gầm đầu, hai tay cuống quýt vân vê tà áo. Gã hòa thượng tiếp tục nhìn Thắm bằng cặp mắt của con chó sói đói mồi:

– Con không có gì để bố thí cho bá tánh, cũng không có gì để cúng dường cho Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), thì thôi, để thầy gợi ý với con điều này, giúp con giải quyết được “vấn nạn” ….

Nghe thầy gợi ý giúp đỡ, Thắm hơi mừng, khẽ ngước nhìn lên nhưng bắt gặp cặp mắt đỏ ngầu đầy thèm khát của con chó sói, nàng run bắn người, gục đầu xuống như con đà điểu vùi đầu trong cát nóng, chạy trốn sự thật. Tiếp theo đó, bằng giọng hơi run run, khàn khàn, thầy hòa thượng nói nhỏ với Thắm:

– Con không có “tài thí”, không cúng dường được phải không …. Hay là, … con cúng dường cái …. lồn của con cho thầy được không???!!!

Lời đề nghị táo bạo của gã hòa thượng như tiếng sét nổ ngang tai của Thắm. Nàng tá hỏa tam tinh, thấy bảy ông trời. Tuy nhiên, nàng hy vọng chắc là mình vì quá bối rối mà nghe lộn chăng? Vẻ mặt của Thắm vụt trở nên tái mét vì sợ hãi. Nàng cất giọng run run hỏi:

– Thưa thầy, thầy vừa nói cái gì?

Gã hòa thượng tự động tiến tới ngồi sát bên Thắm, đưa tay vuốt má nàng và nói thì thầm vào tai của nàng:

– Thầy đề nghị con nên cúng dường cái …. lồn của con cho thầy! Phước đức lắm đó con. Thầy đại diện cho Phật Tổ Như Lai sẽ gia hộ độ trì cho con được trúng số độc đắc, trở thành triệu phú! Pháp thí, tài thí và …. lồn thí là ba điều bố thí quan trọng nhất trong thời đại ngày nay. “Vô úy thí” là xưa rồi. Thời đại ngày nay phải là “lồn thí” thì mới tạo được nhiều phước báu, có thể trở thành tỷ phú đô la như mấy đồng chí trong trung ương đảng! Mấy cô hoa hậu ở trong nước đều là “lồn thí”, nhờ vậy mà họ đều được giàu sang, phú quý!

Ðến nước này thì Thắm bỗng bật lên khóc òa, khóc một cách hết sức đau đớn, tức tưởi. Nàng khóc không phải vì nhân phẩm, nhân cách của nàng bị xúc phạm mà khóc vì …. thần tượng sụp đổ! Nàng không thể ngờ được một vị đại lão hòa thượng mà lại thốt lên những điều ngoài sự tưởng tượng của nàng! Có ngủ mơ chắc cũng không bao giờ nàng mơ thấy một cơn ác mộng đang xảy ra trong thực tế như vậy! Trời ơi là trời! Tại sao, tại sao và tại sao??? Rõ ràng từ bao lâu nay, nàng đã chứng kiến vị đại lão hòa thượng này là một vị cao tăng được rất nhiều người kính nể như một ông Phật sống. Một lời vàng ngọc của thầy ban ra, thiên hạ bá tánh răm rắp tuân theo và gần như là những sự vâng lời vô điều kiện. Có nhiều tín đồ sùng bái thầy tới mức, giá như, thầy bảo họ ăn cứt chắc họ cũng không dám từ chối! Như thế, đủ thấy uy lực của thầy lớn tới cỡ nào. Chắc chắn thầy phải là một bậc chân tu, đạo rất cao, đức rất trọng, cỡ như thượng tọa Thích Quảng Ðức đã dám xả thân tự thiêu vì đạo pháp. Vậy mà …. trời ơi, tại sao? Thật không hiểu nổi!

Thấy Thắm bật khóc, gã hòa thượng bèn đưa tay xoa nhẹ lên má của nàng, rồi bỗng nhiên, tựa như một con hổ đói, cầm lòng không đậu, gã đè ngửa con mồi ra, hôn chùn chụt, hôn lia lịa vào khuôn mặt đẹp của nàng. Sự sợ hãi, sự thất vọng, sự đau đớn về tinh thần đã làm cho sức kháng cự của Thắm hoàn toàn bị tê liệt. Nàng nằm xuôi cò trên giường tựa như Thúy Kiều, cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu, mặc tình cho con chó sói tha hồ tung hoành ngang dọc! Phước báu đâu không thấy, chỉ thấy chữ trinh đáng giá ngàn vàng của nàng sắp sửa bị tước đoạt!

Gã hòa thượng đã mở được cửa thiên đàng mà không hề gặp một sự kháng cự nào thì tội tình gì mà gã không thừa thắng xông lên, “tới luôn bác tài”! Gã nhanh chóng lột tuốt luốt toàn bộ quần áo của Thắm, biến nàng thành một con nhộng nằm tô hô ở trên giường, rõ ràng trong ngọc trắng ngà, dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên! Tiếp theo, gã vùi đầu vào cặp vú của nàng và bú chùn chụt, bú lia bú lịa như một đứa trẻ bị khát sữa lâu ngày. Sau đó, như một dân chơi thứ thiệt ở động đĩ ngã ba Chú Ía, gã hòa thượng vùi đầu vào háng của Thắm, bú, mút và liếm một cách hết sức say sưa như một con chó sói đang khát máu. Thương thay một đóa trà mi, dâm tăng đã tỏ đường đi lối về!!!

Bây giờ thì gã hòa thượng đảng viên cộng sản đã hiện nguyên hình là một con quỷ dâm dục. Gã đã trần truồng một trăm phần trăm và đang nằm đè lên cô Thắm cũng đang trần truồng như nhộng. Gã ôm hôn Thắm lia lịa và thì thầm vào tai nàng qua hơi thở dồn dập:

– Tao thèm … lồn quá!

Thắm gần như bị thôi miên hoặc tê liệt về thần kinh. Ðầu óc của nàng mơ mơ màng màng, thân thể của nàng hầu như bị mất hết cảm giác. Hay là vì nàng đã uống phải tách trà do gã hòa thượng pha, trong đó có bỏ thuốc mê? Trong cơn mê sảng, nàng chỉ loáng thoáng nghe những lời nói hằn học của gã hòa thượng:

– Hừ, trên bảo dưới không nghe! Trên bảo dưới không nghe!

* *

*

Ngày hôm sau, Thắm vừa khóc vừa kể lại hết tất cả mọi sự cho cha mẹ nàng. Cha mẹ Thắm đã rụng rời chân tay, muốn ngất xỉu khi nghe câu chuyện kinh thiên động địa này. Hai ông bà rất tin Thắm vì nàng vốn là cô gái hết sức ngây thơ, thành thật, không bao giờ biết nói dối. Mẹ của Thắm, mặt tái nhợt như bị trúng gió, hỏi Thắm bằng giọng run run:

– Thiệt vậy sao con? Thiệt vậy sao con? Trời ơi, chắc tôi chết!

Sự lo sợ của hai ông bà tập trung vào hai điều. Thứ nhất, là câu nói của vị đại lão hòa thượng “Trên bảo dưới không nghe”. Thắm đã thuật lại nguyên văn câu nói này cho cha mẹ nàng để cả hai tùy nghi nhận xét! Thứ hai, hai ông bà sợ Thắm đã bị mất trinh! Không khéo nàng mang bầu thì nguy lắm. Luật pháp nước Mỹ cấm phá thai, ai mà vi phạm, lơ mơ là đi tù! Trời ơi, chắc là phải đưa con Thắm về Việt Nam để nó phá thai!!! Thật là đại họa!

Cha mẹ của Thắm là phật tử thuần thành, rất tin vào đạo Phật, rất sùng bái mấy ông thầy chùa. Có lẽ đây là truyền thống của gia đình vì ông nội của Thắm, hồi năm 1965, đã sùng bái thầy Trí Quang tới mức, nghe theo lời thầy “dạy”, đem luôn bàn thờ Phật ra ngoài đường để “đấu tranh cho đạo pháp”!

Mẹ của Thắm lo lắng hỏi chồng:

– Anh à, con Thắm làm cho thầy không vừa ý, thầy quở nó. Ðiều này làm cho gia đạo của mình bị tổn phước …. Em lo quá!

Cha của Thắm hỏi lại:

– Sao em biết là thầy quở nó?

– Thì nó kể là thầy cằn nhằn “trên bảo dưới không nghe”! Anh quên rồi sao?

Cha của Thắm đưa hai tay ôm đầu, nét mặt đăm chiêu, suy nghĩ rất dữ dội. Mỗi khi có chuyện gì quan trọng, ông thường làm như vậy. Khoảng chừng năm phút sau thì bỗng ông thở phào như trút được một gánh nặng ngàn cân. Ông mừng rỡ nói:

– Em à, con Thắm nhà mình vẫn còn …. trinh! Không phải thầy hòa thượng quở nó đâu! Anh đã tìm ra đáp số rồi!

Mẹ của Thắm hỏi dồn:

– Sao ông biết, sao ông biết?

Cha của Thắm nở một nụ cười tự hào và nói nhỏ với vợ:

– Tại em ít có theo dõi tình hình chính trị nên không biết. Cái câu nói “trên bảo dưới không nghe”, nguyên thủy là câu nói của thằng chó đẻ Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước của việt cộng. Sau đó, báo chí ở hải ngoại người ta nhạo báng, biến nó thành ra câu “tục ngữ”, ám chỉ mấy người bị liệt dương! Thầy đại lão hòa thượng của tụi mình là cộng sản chính cống đó. Thầy là thiếu tướng công an, trước đây đã từng là ủy viên trung ương đảng, hồi thằng Võ Văn Kiệt còn làm thủ tướng. Chính thằng Kiệt đã đưa thầy ra hải ngoại hoạt động để “gom bi” toàn bộ việt kiều! Anh biết điều này đã lâu nhưng anh không dám hé răng. Lơ mơ là tụi điệp viên của cộng sản nó tìm tới tận nhà, nó ám sát mình!

Mẹ của Thắm lại théc méc:

– Thầy là cộng sản thì có dính dáng gì đến việc con mình không bị mất trinh?

Cha của Thắm tiếp tục giải thích:

– Thầy đã cởi truồng nằm đè lên người con Thắm mà thầy thốt lên câu nói “trên bảo dưới không nghe”, tức là ý thầy bất mãn, lực bất tòng tâm! Thầy muốn, nhưng “chú tiểu” không muốn! Thầy đã ngoài tám mươi tuổi thì “trên bảo dưới không nghe” là chuyện bình thường. Nhờ vậy mà con Thắm nhà mình vẫn …. còn trinh! Tôi dám cá một trăm phần trăm là nó vẫn còn trinh. Nó mắc cở không dám nói hết, chớ nếu bà hỏi nó chi tiết thì mọi chuyện sẽ minh bạch!

Nghe chồng giải đáp xong mọi chuyện, mẹ của Thắm thở phào mừng rỡ:

– Cám ơn Trời Phật. Nhà mình thiệt còn có phước lớn! Tôi chỉ sợ nó bị tai tiếng vì vụ này thì có nước ế chồng!

Ông chồng tỏ ra là người hiểu biết “nghệ thuật” sống ở đời:

– Nhưng dầu gì vợ chồng mình cũng là đệ tử của thầy. Dầu thầy của tụi mình có sai trái gì đi chăng nữa thì bổn phận là phật tử, tụi mình vẫn phải thờ kính thầy như thờ Phật, huống chi trong trường hợp này, thầy đã “nhân đạo” không làm cho con mình bị mất trinh! Bởi vậy tôi bàn với bà là ngày mai, hai vợ chồng mình phải mua trái cây, bông hoa và tiền mặt đem tới chùa làm lễ cúng tạ ơn thầy đại lão hòa thượng. Xin tạ ơn thầy đã “nhân đạo” buông tha cho con Thắm nhà mình!

PHẦN KẾT LUẬN:

Câu chuyện cô Thắm bị hãm hiếp là một trong hàng ngàn tấn bi kịch đã và đang xảy ra, trong đó, nạn nhân là những phật tử ngu dốt, mê tín và tràn đầy lòng tham. Chính vì tham lam, lười biếng, không muốn tự giải thoát cho chính mình nên họ đã nhờ các “thầy” đại diện cho Phật Tổ giải thoát giùm! Những tên công an đầu trọc thừa cơ nước đục thả câu, vừa bốc hốt đô la, vừa “gia hộ độ trì” cho nhiều cô gái bị mang bầu!

Cha của cô Thắm thừa biết tên đại lão hòa thượng là cán bộ cộng sản. Hắn đã công khai đi dự cái gọi là “đại hội việt kiều” ở Việt Nam. Nhưng cha của cô Thắm, cũng như vô số những phật tử khác đã ngậm câm miệng hến, tiếp tục cam tâm làm những tên nô lệ hèn nhát đến ngu xuẩn và tội nghiệp!

Con gái của mình bị hãm hiếp, không dám đi tố cáo với chính quyền, đã vậy hai vợ chồng còn tiếp tục rủ nhau đến chùa dâng lễ tạ ơn “thầy” đã giàu lòng “nhân đạo” không làm cho cô Thắm bị mất trinh!

Có lẽ sau khi đọc xong câu chuyện này, nhiều người sẽ kêu lên: – Ồ, đây là sản phẩm tưởng tượng của tiểu thuyết! Thực tế làm gì có ở ngoài đời?

Không đâu, xin thưa với quý vị, không phải là tưởng tượng. Bằng cớ là bọn việt gian cộng sản đang tiếp tục đổ tiền ra hải ngoại xây thật nhiều ngôi chùa thật “hoành tráng”. Chắc chắn là bọn chúng thấy vấn đề kinh doanh tôn giáo, nhất bản vạn lợi nên mới làm như vậy! Ở trong nước, bọn chúng đã dám bỏ ra hàng chục triệu đô la để xây ngôi chùa lớn nhất Đông Nam Á, rồi còn thuê nguyên một chuyến bay rước “xá lợi Phật” từ bên Ấn Độ về!

Chế độ của bọn việt gian cộng sản sẽ không bao giờ tự hủy hoại, tự sụp đổ như tên điếm chính trị Đinh Thạch Bích – biệt hiệu “con tắc kè”- vẫn cứ ra rả tuyên truyền trên diễn đàn paltalk, được tờ điện báo VietNam Exodus tiếp tay phổ biến! Ngày nào bọn công an đầu trọc còn tung hoành ngang dọc, ngày đó chúng ta còn làm nô lệ.

Đức Pháp vương Gyalwang Drukpa, trong lần ghé thăm Việt Nam thuyết pháp, đã dạy chúng ta rằng:

– Muốn tự giải thoát, chúng ta phải chịu khó suy nghĩ, tìm hiểu đâu là nguyên nhân gây ra sự đau khổ và phải hành động để chấm dứt nó. Ngài Drukpa đã dạy rõ rằng, nếu biết ý thức và tích cực hành động thì chúng ta vẫn có thể thay đổi, biến cái xấu thành cái tốt, làm cho số phận của chúng ta trở nên khá hơn. Lỗi của chúng ta chính là KHÔNG CHỊU TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN NÀO ĐÃ GÂY RA ĐAU KHỔ VÀ ĐÃ THỤ ĐỘNG CHẤP NHẬN SỰ ĐAU KHỔ, COI ĐÓ NHƯ MỘT SỰ MẶC NHIÊN, một loại ĐỊNH MỆNH ĐÃ được AN BÀI!!!

Trở lại trường hợp của cô Thắm, chúng ta thấy nguyên nhân gây ra sự đau khổ chính là tên dâm tăng đại lão hòa thượng. Trong trường hợp này, muốn chấm dứt sự đau khổ cho bản thân mình và cho nhiều người khác thì bản thân cô Thắm và cha mẹ cô phải làm đơn thưa tên dâm tăng ra tòa để hắn vô nhà đá mà gỡ lịch.

Ý THỨC và HÀNH ĐỘNG phải đi đôi với nhau. Cha mẹ cô Thắm ý thức được tên dâm tăng là nguyên nhân của sự đau khổ nhưng họ không đã dám hành động. Sự hèn nhát đó đã đưa đến hậu quả là bản thân họ và con gái của họ phải tiếp tục làm nô lệ!

Xin đưa thêm một ví dụ khác: – Trong chúng ta, ắt hẳn nhiều người đã từng có sự nghi ngờ về cặp bài trùng dân chủ cuội Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Lý. Tuy nhiên, họ đã không dám đi ngược lại những cái loa truyền thông bất lương của bọn giặc. Thay vì dám lên tiếng thì họ đã chọn thái độ buông xuôi, câm lặng, để mặc cho bọn giặc tung hoành, coi như định mệnh đã an bài! Họ thường tự nhủ rằng: – một tiếng nói lẻ loi của mình thì liệu có ai tin, không khéo lại bị chụp mũ là “đánh phá tôn giáo, đánh phá “anh hùng dân tộc” thì bỏ mẹ!

Tương tự như vậy, nhiều người trong chúng ta đã ý thức được tập đoàn việt gian cộng sản là nguyên nhân gây ra nỗi khổ đau cho toàn dân tộc. Nhưng họ không dám hành động, thậm chí không dám lên tiếng nói đấu tranh, thay vào đó, họ đã chọn thái độ thụ động, buông xuôi, coi như định mệnh đã an bài!

Do đó, qua tấn thảm kịch của cô Thắm, chúng ta có thể kết luận rằng: SỰ HÈN NHÁT, SỰ NGU DỐT, SỰ MÊ TÍN VÀ LÒNG THAM đã làm cho nhiều người TÌNH NGUYỆN ĐI LÀM NÔ LỆ CHO BỌN VIỆT GIAN CỘNG SẢN!!!

Trần Thanh

Ngày 11 tháng 4 năm 2010

=========================

Chú thích:

* Thầy Quảng Ðộ đã “dạy” rằng: – phàm khi làm bất cứ việc gì, chúng ta phải nhắm vào hai chữ “DANH và LỢI”!!!

http://www.hon-viet.co.uk/TranThanh_BiHamHiepVanConTrinh.htm

SỰ THẬT VỀ ÔNG THÍCH ĐÔN HẬU (Liên Thành)

suc_vat_thich_don_hau

SỰ THẬT VỀ ÔNG THÍCH ĐÔN HẬU (Liên Thành)
__________________________________________

THƯ TRẢ LỜI CHÍNH THỨC CỦA
Liên Thành
– Nguyên Phó Trưởng Ty Cảnh Sát Đặc Biệt
Ty CSQG/Thừa Thiên-Huế 1966-1969
– Chỉ Huy Trưởng BCH/CSQG
Thừa Thiên-Huế 1969-1975

V/V: -ÔNG ĐÔN HẬU KHÔNG LÀ CỘNG SẢN
-MẬU THÂN 1968, ÔNG ĐÔN HẬU BỊ VC BẮT RA HÀNỘI.

Kính Gởi:
– Đại Lão Hòa Thượng Thích Quãng Độ,
xử lý thường vụ Viện Tăng Thống
– Giáo Sư Võ Văn Ái

Thưa Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ,
Thưa Giáo Sư Võ Văn Ái,

Cách đây gần ba năm, vào cuối thu năm 2007, khi đặt bút viết những dòng chữ đầu tiên về các Biến Động Miền Trung từ 1966-1975, tôi đã tiên liệu rằng, rồi ra sẽ là một “biến động lớn” tại hải ngoại và quốc nội. Bởi vì, những gì tôi viết ra tuy là những sự việc đã thực sự xảy ra, những đầu mối để dẫn đến một thời điểm đen tối nhất của lịch sử Việt Nam, nhưng trong đó, có những việc liên quan đến một số nhân vật, đã dùng chiếc áo tu hành, cố đem thần quyền khống chế thế quyền. Thế quyền đó chính là 2 chính thể Việt Nam Cộng Hòa, đã bị một số người bất lương, hùa theo cộng sản, cãi trang trong cái võ bọc tôn giáo, quyết tâm triệt hạ chính quyền Miền Nam, nhằm phục vụ tích cực cho đảng Cộng sản trong mưu đồ thôn tính toàn cõi đất nước Việt Nam. Vì vậy, đã có một số người không vừa lòng, vì tôi đụng chạm đến các lãnh tụ Phật Giáo, vì tôi đưa ra những sự việc không làm vừa lòng họ, một số khác chống đối vi họ muốn ém nhẹm sự việc.
Nếu tôi dựng chuyện vu khống các vị cho dù là thường dân hay các bậc tu sĩ, thì lương tâm và danh dự tôi là một bản án trừng phạt nặng nhất cho chính tôi, chứ không cần đợi cho ai chứng minh là tôi sai hay vu khống cả. Vì thế, không một thế lực nào trên đời này có thể cản trở tôi nói ra sự thật. Tôi đã từng xông vào chùa Trà Am, bắt sư Thích Như Ý, em Hòa Thượng Thích Trí Thủ, sau đó đến chổ nghĩa địa cất dấu, lôi ra 6 ký lô chất nỗ hợp chất C3 và 8 ngòi nỗ chậm, trước sự chưởi rũa của Ông Thích Như Ý rằng tôi là mật vụ Mỹ Thiệu, con dòng cháu giống đi làm du đảng đàn áp quý thầy, thâm ý của ông ta muốn làm nao núng áp đảo tinh thần tôi, nhưng ông Như Ý đã lầm, khi tôi đã cân nhắc hơn thiệt đúng sai, đúng là cộng sản, tôi đi đến cùng, triệt hạ thẳng tay, bất kể đó là chùa hay nhà thờ.
Núp bóng thế lực chùa hay nhà thờ để tạo sức mạnh hoạt động cộng sản, gây rối trị an, hoàn toàn không có giá trị gì với tôi cả. Sau 1975, Thích Như Ý hiên nguyên hình là tên Việt Cộng nằm vùng đặc trách Tôn Giáo Vận. Sự việc này không ai có thể chối cãi. Các anh em CSQG cùng với đến lục soát chùa Trà Am hiện nay còn sống tại Hoa Kỳ, dân chúng trong vùng gần chùa Trà Am còn đó. ĐLHT và ông Võ Văn Ái dễ dàng kiểm chứng sự kiện

Những nhân vật mà tôi đề cập trong Biến Động Miền Trung đó là: Trí Quang, Đôn Hậu, Thiện Siêu, Như Ý, Chánh Trực v.v những người đã được phật giáo đồ miền trung đặc biệt là Thừa Thiên-Huế kính trọng, tôn sùng, xem như là các bậc thánh linh trong đời sống, nay bỗng chốc bị lột trần ra là đảng viên Cộng Sản, là cán bộ Việt Cộng nằm vùng trong Phật Giáo, lợi dụng tôn giáo để phỉnh gạt tín đồ để thi hành các công tác mà cơ quan tình báo Chiến lược Cộng Sản Bắc Việt giao phó.

Vì lẽ đó, “Biến Động Miền Trung” là một sự thật làm bàng hoàng, đau đớn, và gây xúc động cho nhiều người. Ngược lại, “Biến Động Miền Trung” cũng đã tạo một cơn chấn động bởi một số người không những không chịu chấp nhận sự thật, lại còn ráng bóp méo, cho rằng BĐMT ra đời là để bôi nhọ, đánh phá Phật Giáo, gây chia rẽ tôn giáo, chia rẽ cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại. Tôi sợ những dư luận rẻ tiền này không? Thưa không!
Bởi vì Biến Động Miền Trung không ai khác, chính là gây ra bởi phong trào gọi là Phật Giáo Tranh Đấu phản loạn, đầu tiên bởi một số cá nhân hoạt động cộng sản, núp bóng trong hàng ngủ lãnh đạo Phật Giáo. Và tôi là người đem sự thật ra phanh phui, cho nên, nói đến Biến Động Miền Trung là nói đến sự thù ghét cá nhân tôi, Liên Thành, bởi những kẻ tin người giảng đạo hơn là tin đạo. Chúng viết bài viết sách lý luận mơ hồ nhảm nhí chữi bới hạ cấp như những kẻ đầu đường xó chợ, và tôi, Liên Thành, không hề đếm xỉa gì đến những tình cảm thương ghét chữi đổng hạ cấp này
Quá trắng trợn, họ đưa ra những sự việc đầy cảm tính, ước đoán hết sức mơ hồ mông lung, để bênh vực và biện minh rằng ông Thích Đôn Hậu, thuộc hàng lãnh đạo Phật Giáo có tên tuổi, đã bị bọn Việt cộng bắt đi ra Bắc trong Tết Mậu Thân 1968. Đây là cuộc ra đi vì bị bắt buộc bởi một tiểu đội quân Cộng Sản Bắc Việt dí súng AK vào người ông ta, và rằng ông ta không bao giờ thỏa hiệp với chính quyền Cộng Sản Miền Bắc về cuộc ra đi này cả. Những lối nói khơi khơi không có sự kiện để chứng minh như thế, chẳng bao giờ có chút giá trị nào đối với hệ thống luật pháp của bất cứ quốc gia nào, kể cả tụi cộng sản

Gần đây nhất, trên internet tôi tình cờ đọc được thông tư đề ngày 17-1-2010, số 07/VHĐ/VT của Hòa Thượng Quảng Độ đăng chính thức trong website queme.net ngày 18/1/2010, với tư cách là Xử lý Thường Vụ viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng viện Hóa Đạo, PGVNTN gởi đồng bào Phật Tử về một : “ Hiện trạng vu khống, chụp mũ hàng giáo phẩm PGVNTN đang lưu hành trên mạng và các cơ quan truyền thông” .

Đọc xong thông tư của Đại Lão Hòa Thượng, tôi thấy bản thông tư này, từ ý tưởng, nội dung, đến cách hành văn, dường như rất quen thuộc của ông Võ văn Ái, khó mà giống của Hoà Thượng. Tuy nhiên, cho dù không phải là do ĐLHT Quảng Độ viết, mà là của GS Võ văn Ái, tôi nhận thấy rằng tôi phải chính thức trả lời ĐLHT và ông Võ văn Ái, vì thông tư đứng tên ĐLHT, và vì những vấn đề trong thông tư quá mơ hồ và sai sự thật.
Trả lại sự thật cho lịch sử là bổn phận của tất cả mọi công dân đã vì duyên nghiệp mà biết được những oan khiên sai trái của những âm mưu chính trị đen tối. Tôi, Liên Thành, vì chức vụ, bổn phận, và trách nhiệm mà biết được những điều đó, thì tôi không có quyền im lặng, vì, trách nhiệm đối với đất nước và lịch sử là bổn phận tối thượng. Đó là trách nhiệm thiêng liêng trên hết mọi lãnh vực, nó trên cả lãnh vực tôn giáo. Không ai có thể nhân danh lãnh đạo tôn giáo, nhân danh tôn giáo để che đậy sự thật lịch sử của đất nước Việt Nam này.
Tôn giáo là tôn giáo, lãnh đạo Phật Giáo là lãnh đạo Phật Giáo, họ là những người đi rao giảng lời Phật, họ không là Phật, họ cũng chẳng là Phật Giáo
Điều này quá rõ và quá đơn giản, nhưng vẫn còn có một số người cố bám víu trộn lẫn các phạm trù này lại, cho rằng quý vị đó là Phật Giáo, để đánh lận dư luận, mưu đồ lợi dụng sức mạnh tôn giáo để thực hiện những mưu toan chính trị không ngay thẳng
Cuối cùng, với trách nhiệm là một Phật Tử, tôi phải đặt đức công bằng lên trên tất cả những tai tiếng của các lãnh đạo tôn giáo của đạo mình, mà ngay chính cá nhân tôi, trong chổ riêng tư, phần nào cũng muốn dấu bớt, vì xấu hổ
Tôi sẳn sàng đối chất minh bạch với ĐLHT Thích Quảng Độ và cả ông Võ Văn Ái, trên tất cả các phương tiện truyền thông và công luận, nếu như ông Võ Văn Ái là người sáng tác ra bản thông tư này

Trong thông tư, ĐL Hòa Thượng yêu cầu các chư Đức, Tăng, Ni, Phật tử đặc biệt là ở hải ngọai có nhiều phương tiện thông tin, “Tìm kiếm tài liệu, thu thập chứng liệu, và tìm phương cách giải, hoặc những bài viết, hoặc do thiếu hiểu biết, hoặc cố tâm vu cáo PGVNTN theo các chủ trương tiêu diệt những sinh lực dân tộc, mà Phật giáo là một, cho những viễn đồ phi dân tộc và phản tổ quốc”

ĐL Hòa Thượng Thích Quảng Độ, hay GS Võ văn Ái đã đưa ra một số hiện trạng vu khống và chụp mũ 2 lãnh đạo Phật Giáo như sau:

1- Đệ nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết là Cộng Sản.
Thật tình, tôi rất ngạc nhiên khi đọc đoạn nầy. Bởi lẽ, dường như từ trước đến nay chưa bao giờ tại hải ngoại có một tài liệu nào, có bài báo nào, ngay cả trên hệ thống Internet, nói rằng Đệ Nhất Tăng Thống Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết là Cộng Sản! Nếu như tôi sai, xin ĐL Hòa Thượng và ông Võ Văn Ái cho tôi đọc qua các tài liệu đó

Phần tôi, có lẽ tôi là người may mắn biết rõ và sống rất gần với Đệ Nhất Tăng Thống Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, người mà anh chị em chúng tôi gọi là ông, nói theo tiếng địa phương xứ Huế, thì chúng tôi gọi là Ôn:

Ôn tôi, Đệ I Tăng Thống Thích Tịnh Khiết, và bà nội tôi, Phu Nhân Đức Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, là hai anh em bạn dì ruột. Đức Đệ I Tăng Thống là anh, và Bà Nội tôi là em. Cả hai là con của hai bà Công Chúa chị em ruột, con gái vua Thiệu Trị.
Đệ I Tăng Thống Thích Tịnh Khiết xuất gia từ năm 10 tuổi. Ngôi chùa ông tu đạo và sau nầy khi giữ chức Đệ I Tăng Thống là Chùa Tường Vân, chỉ cách chùa Từ Đàm không quá 3 Km.
Là Phật Tử ở Huế, ai cũng biết ông là một vị chân tu, không màng đến chuyện chánh trị, chánh em, không ham mê quyền lực, một đời tu hành thanh bạch. Tình cảm duy nhất đối với trần tục, có lẽ là tình thương của ông đối với người em gái gian truân thiếu may mắn, là Bà Nội tôi. Từ khi tôi còn nhỏ cho đến khi lớn khôn, tại ngôi nhà gần chùa Từ Đàm vùng Nam Giao, không tuần lễ nào tôi không thấy Ông đến thăm bà nội tôi một vài lần. Bà nội tôi đi pha trà, hai anh em ngồi nói chuyện bâng quơ, chúng tôi lẫn quẫn đâu đó, ông xoa đầu chúng tôi, cho ít hoa quả bánh trái, xong rồi ông lại về chùa. Thỉnh thoảng, chúng tôi lại chạy lên chùa chơi với ông. Có lẽ vì gần gũi lẫn quẫn với ông như vậy, nên anh tôi, Liên Phú, cũng theo chân ông, trở thành một người xuất gia, sau đó ở cận kề với ông đến ngày ông mất, nay là Đại Lão Hòa Thượng Thích Chơn Kim.
Đó là những ngày anh em chúng tôi còn thơ ấu .
Ngày Bà nội tôi mất, có lẽ ông là một trong những người buồn nhất. Ôn chủ lễ, tụng kinh niệm Phật, nét mặt u sầu không nói năng chi, đôi dòng lệ chảy dài trên má, trông thật thương tâm. Đó là đời tư của Ôn mà tôi biết.

Còn về đời công của ông, với tư cách là phó trưởng Ty CSĐB/BCH/CSQG Thừa Thiên Huế từ 1966, đến sau Mậu Thân 1968 và sau đó đảm nhiệm chức vụ trưởng ty CSQG/Thừa Thiên Huế cho đến đầu năm 1975, tính ra khoảng 9 năm, tôi có có thể xác nhận là trong suốt 9 năm nắm giữ ngành tình báo tại Thừa Thiên Huế, không có một sự kiện, một tin tức nào ghi nhận Đệ I Tăng Thống Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết là Cộng Sản, hay ngay cả đến việc vô tình hoạt động có lợi cho Cộng sản. Tài liệu trong văn khố của BCH/CSQG Thừa Thiên Huế, trước khi tôi nhậm chức, cũng ghi nhận sự trong sáng của Đệ Nhất Tăng Thống, không hề dính liếu đến cộng sản, mặc dù các biến cố chính trị quan trọng của đất nước có liên quan nhiều đến một số các vị lãnh đạo Phật Giáo cấp nhỏ hơn chung quanh ông, mà đã, hoặc chính là cộng sản, hoặc hoạt động có lợi cho cộng sản . Không có vị tu sĩ nào đã quyến rũ được Đệ Nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết đi theo con đường cộng sản
Sau Mậu Thân 1968, hồ sơ cá nhân trong văn Khố của BCH/CSQG/Thừa Thiên Huế ghi nhận về Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn, Lê Hữu Bôi, Sinh Viên Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, ra Huế ăn Tết và dự định đi hỏi vợ. Ra Huế, SV Lê Hữu Bôi trú ngụ tại chùa Tường Vân với cậu mình là ngài Đệ Nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết. SV Lê Hữu Bôi đã bị bọn Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, bắt và đem đi chôn sống. Hồ sơ của SV Lê Hữu Bôi tại Văn Khố có ghi rõ: Sinh Viên Lê Hữu Bôi là cháu gọi Đệ I Tăng Thống Thích Tịnh Khiển là cậu ruột.
Ôn Tịnh Khiết nuôi dưỡng SV Lê Hữu Bôi từ nhỏ. Trong gia đình, SV Lê Hữu Bôi thuộc vai anh của ba tôi, cháu của bà nội tôi và cũng là cháu ôn Tịnh Khiết, và do đó, tôi gọi SV Lê Hữu Bôi là Bác.
Chúng giết SV Lê Hữu Bôi vì SV Lê Hữu Bôi là người quốc gia, không đồng hội đồng thuyền với chúng, không cộng tác với chúng trong phong trào sinh viên tranh đấu, Phật Giáo tranh đấu, và như thế chúng đổ cho SV Lê Hữu Bôi là làm việc cho CIA. Bất cứ ai người Miền Nam hoạt động trong chính quyền không nghe theo khuynh hướng cộng sản đều là CIA cả.
Còn Ôn Tịnh Khiết, vì lý do danh tiếng của ngài quá lớn, chúng e dè chưa dám giết. SV Lê Hữu Bôi là thành phần quốc gia yêu nước chân chính, được giáo dưỡng từ nhỏ bởi cậu mình là ngài Đệ Nhất Tăng Thống. Bấy nhiêu đó cũng cho thấy ngài Đệ Nhất Tăng Thống Ôn tôi là một vị chân tu không hề ưa thích cộng sản. Bằng không, nếu như Ôn tôi có hoạt động cộng sản với Trí Quang, có lẽ, Lê Hữu Bôi đã đi theo con đường bọn sinh viên tranh đấu hoạt động cộng sản rồi

Tóm lại, tôi không vì tình cảm liên hệ gia đình với Đệ I Tăng Thống Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh khiết mà bào chữa cho ông để nói những điều không đúng sự thật.
Tôi có thể xác nhận công khai, minh bạch, với danh dự của cá nhân tôi, và danh dự cũng như tư cách của một cựu CHT/ CSQG/ Thừa Thiên Huế:
Tôi chưa bao giờ nghe, cũng như trong 9 năm phục vụ tại BCH/CSQG Thừa Thiên Huế không ghi nhận một tin tức nào nói rằng: Đệ I Tăng Thống Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết họat động cho Cộng Sản.
Số anh em trong BCH/CSQG TT/ Huế hiện đang ở hãi ngoại rất đông, đặc biệt Hoa Kỳ, và một số vị có thẩm quyền khác hiện còn sống, có thể là nhân chứng việc này
Và tôi sẳn sàng đối chất cho ra lẽ với bất cứ cựu viên chức nào, cá nhân có tên tuổi nào, cáo buộc Đệ Nhất Tăng Thống là cộng sản

Điều mà trong thông tư của Hòa Thượng Quảng Độ hay chính của ông Võ Văn Ái tại Paris nói rằng, có kẻ đã vu khống Đệ I Tăng Thống Thích Tịnh Khiết là Cộng Sản, tôi không hiểu ĐLHT Quãng Độ và ông Võ Văn Ái lấy tin tức nầy ở đâu, có giá trị hay không? xin cho tôi biết chính xác tên tuổi của cá nhân kẻ đó là ai? Kẽ đó có phải là những viên chức liên quan đến tình báo nội an trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa hay không? Tôi sẳn sàng đối chất trước công luận và báo chí với họ, dẫn chứng với nhân chứng sống hiện đang ở hãi ngoại. Còn những chuyện vụn vặt tầm phào vớ vẫn online, tên ma tuổi quỹ, xin ông Võ Văn Ái đừng dẫn chứng.
Tóm lại thông tư của Hòa Thương Quảng Độ, hay của GS Võ văn Ái phản đối việc vu khống Đệ I Tăng Thống Thích Tịnh Khiết là Cộng Sản là một điều đúng và chính đáng, tuy nhiên, xin nhị vị cho công luận biết cụ thể, kẽ đó là ai? Có giá trị để bàn cãi hay không?

2- Phản đối của Hòa Thượng Quảng Độ hay của GS Võ văn Ái về “hiện trạng vu khống, chụp mũ Đệ Tam Tăng Thống Thích Đôn Hậu là cộng sản.”
Kèm theo lời phản đối này, GS Ái còn nói ông ta có một số dự kiện và một hai cuốn băng thâu lời nói của Đệ III Tăng Thống Thích Đôn Hậu để biện minh rằng ông Đôn Hậu không thể là cộng sản, và sự ra đi của ông ta trong Tết Mậu Thân là bị Việt Cộng dí súng AK vào lưng bắt đi v.v…

Kính thưa Hòa Thượng Thích Quảng Độ,
Thưa ông Võ văn Ái,
Tôi, Liên Thành, nguyên CHT/BCH/CSQG/ Thừa Thiên Huế, có mặt tại Huế và theo dõi ông ta trong thời gian ông Đôn Hậu hoạt động và thoát ly theo cộng sản, chính là người đã nói trong các cuộc thuyết trình về Biến Động Miền Trung và viết trong cuốn sách cùng tên rằng:
Ông Thích Đôn Hậu là Cộng Sản, và sự ra đi của ông Đôn Hậu và phái đoàn của ông ta ra Hà Nội trong Tết Mậu Thân 1968 tại Huế là một sự sắp đặt từ lâu của chính phủ Cộng Sản Hà Nội, và được đã sự đồng ý, thỏa thuận, của Ông Đôn Hậu.

Luận điệu nói rằng ông Đôn Hậu ra Bắc vì bị một tiểu đội Việt Cộng dí súng AK vào người ông ta dẫn đi chỉ là lời phát biểu suông mơ hồ, không đúng đắn, che dấu sự thật một cách khó thuyết phục, của những người chỉ là những kẻ bàng quang ngoại cuộc, không hề có một chút liên hệ gì đến hệ thống tình báo nội an của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, để có thể có chút uy tín chống đỡ bảo vệ cho lời phát biểu của mình

Để có thể chứng minh cùng ĐLHT Quảng Độ và ông Võ Văn Ái , tôi sẽ lần luợt đưa ra từng sự việc mà cơ quan tình báo của lực lượng CSQG tại Thừa Thiên Huế đã thu thập. Chúng tôi đã bám sát theo dõi mọi hành động, mọi hoạt động của tên Trung Tá điệp viên Cộng Sản Hoàng Kim Loan từ cuối tháng 6/1966, cho đến ngày Hoàng Kim Loan bị lực lượng chúng tôi bắt giữ vào tháng 5 năm 1972. Tính đến ngày Hoàng Kim Loan bị chúng tôi bắt, y đã hoạt động trong lãnh vực Tôn Giáo Vận, Trí Thức Vận đến 22 năm tại Huế, và liên quan chặt chẽ với các ông: Thích Đôn Hậu, Thích Trí Quang, Thích Thiện Siêu, Thích Chánh Trực, Thích Như Ý. Đó là danh sách những kẻ lợi dụng tôn giáo, tin đồ, hoạt động cho Cộng Sản.
Lần này trả lời cho ĐLHT Quảng Độ và ông Võ Văn Ái, tôi chỉ giới hạn trường hợp của Ông Thích Đôn Hậu mà thôi. Những trường hợp những người kia, xin hẹn dịp khác

Đầu tiên, có thể tóm tắt thân thế và sự nghiệp của Ông Đôn Hậu như sau:
Ông tên thật là Diệp Trương Thuần.
Sinh ngày 16-2-1905 tức ngày 13 tháng giêng năm Ất Tỵ
Sinh quán tại làng Xuân An, Tổng An Điền, phủ Triệu Phong, Tỉnh Quảng Trị.
Thân Phụ: Diệp văn Kỷ, là một lương y. Thân Mẫu: Bà Nguyễn thị Cựu.
Xuất gia ngày 19 tháng 6 năm 1923 tức là năm Quý Hợi tại Chùa Tây Thiên, Huyện Hương Thủy tỉnh Thừa Thiên. Lúc ấy ông 18 tuổi.
Sư Phụ là ngài Tâm Tịnh.
-Năm 1945 nhận chức trù trì chùa Linh Mụ
– Năm 1963 đứng trong hàng ngũ lãnh đạo phong trào tranh đấu lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diện và nền đệ nhất Cộng Hòa.
– Năm 1964, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập, ông Đôn Hậu được cử làm Chánh đại diện miền Vạn Hạnh.
– Mậu Thân 1968, theo đề cử của Thành ủy Viên Thành ủy Việt Cộng Hoàng Kim Loan, ông Đôn Hậu được cử vào Chức Vụ Phó Chủ Tịch Lực Luợng Liên Minh, Dân Tộc, Dân Chủ, Hòa Bình tại Huế.
– Tháng 1/1968 tham gia Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, thoát ly lên mật khu và sau đó ra Hà Nội.
– Tại Hà Nội Ông Đôn Hậu được đề cử Phó trưởng đoàn đại diện cho thành phần trí thức, tôn giáo, “quần chúng Miền Nam yêu nuớc” xuất ngoại truyên truyền cho cuộc chiến xâm lăng của Hà Nội tại miền Nam Việt Nam, tuyên truyền rằng chính phủ VNCH là một chính phủ đàn áp Phật Giáo, đàn áp nhân dân.
– Tháng 6 năm 1968 Ủy viên Hội Đồng Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam của Việt Cộng.
– 1970 Ủy Viên thường trực Ban Chấp Hành Hội Phật Giáo Á Châu vì Hòa Bình, một tổ chức của Cộng sản.
– 1976 Đắc cử Đại biểu Quốc Hội Khóa VI nước cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
– Cũng trong năm 1976 giữ chức vụ Ủy viên Đoàn Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.

Hai vị hẳn còn nhớ đám tang của Ông Đôn Hậu Đã được Hà Nội tổ chức long trọng như thế nào, những nhân vật cao cấp nào của chính phủ và đảng Cộng Sản Việt Nam tham dự đám tang này. Tôi xin nhắc lại vài nhân vật:
Nguyễn Quyết, phó chủ tịch Hội Đồng Nhà Nước, Ủy Viên Đoàn Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc Trung Uơng, Vũ Thắng, Ủy Viên Trung Ương Đảng, kiêm bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên /Huế, Nguyễn Chính, phó trưởng ban Tôn Giáo Chính Phủ
Gởi vòng hoa viếng, có các tên tuỗi lẫy lừng của Đảng như sau: Đỗ Mười, tỗng bí thư BCH Trung Ương Đảng, Võ Chí Công, chủ tịch nhà nước, Phạm văn Đồng, cố vấn BCH Trung Ương Đảng, Lê Quang Đạo, chủ tịch quốc hội, Võ Văn Kiệt, chủ tịch Hội Đồng bộ Trưởng
Và biết bao huy chương cao quý đã được đảng cộng sản Việt Nam trao tặng ông Đôn Hậu! Đám tang thật rình rang! Thiết nghĩ, chẳng cần nhắc lại thì ĐLHT và ông Võ Văn Ái cũng đã rõ. Câu hỏi được đặt ra cho công luận và lịch sử là, có ai đã từng được nhà nước cách mạng trao tặng huy chương cao quý tổ chức tang lễ trọng vọng mà không từng hoạt động cộng sản? Xin hai vị cho công luận biết?
Cũng là tăng thống như ông Đôn Hậu, nhưng Đức Đệ Tứ Tăng Thống, ĐLHT Thích Huyền Quang có được tặng huân chương nào không? Câu trả lời quá dễ dàng, bỡi vì ĐLHT Huyền Quang không hoạt động cho bọn chúng

Nhưng quan trọng hơn cả là những hoạt động của ông Đôn Hậu qua sự chỉ đạo điều khiển của tên Trung Tá Điệp Viên Cộng Sản Bắc Việt Hoàng Kim Loan từ truớc 1963, những điều nầy ĐLHT Quảng Độ và ông Võ Văn Ái chưa bao giờ biết, tôi xin tóm tắt để hai vị rõ:

Cuối tháng 6 năm 1966 khi cuộc phản loạn của ông Trí Quang và đồng bọn tại miền Trung, đặc biệt tại Huế bị thất bại, tất cả đám tay chân thân tín của các ông Trí Quang và Thích Đôn Hậu đều là cơ sở nội thành Việt Cộng, do tên Trung Tá VC Hoàng Kim Loan chỉ huy, bị lực lượng an ninh của Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan Tư Lệnh Hành Quân Dẹp Loạn Miền Trung, cùng lực lượng CSĐB thuộc BCH/CSQG Thừa Thiên Huế do tôi chỉ huy, ráo riết lùng bắt. Do vậy, cơ quan An ninh Khu ủy Trị Thiên, và cơ quan an ninh Tỉnh Thị Ủy Thừa Thiên-Huế đã chỉ thị cho tên Trung Tá điệp viên Hoàng Kim Loan khẩn cấp cứu đám cơ sở nằm vùng quan trọng đưa lên mật khu. Điển hình cho việc này là vụ giải thoát anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường Hoàng Phủ Ngọc Phan, vụ giải thoát cho tên cán bộ nội thành VC Nguyễn Tròn, vụ giải thoát tên đồ tể Nguyễn Đắc Xuân.

1- Hai cán bộ nội thành Tôn Thất Dương Tiềm và Lê Cảnh Đạm do Hoàng Kim Loan phái đến nhà Trịnh Công Sơn tại đường Nguyễn Trường Tộ Huế, để đưa hai tên Tường và Phan bằng chiếc xe hơi màu trắng của Bà Tuần Chi, tức Đào thị Xuân Yến, lên chùa Linh Mụ qua Văn Thánh rồi từ đó đi bộ lên mật khu, tháng 6/1966. Nhân chứng của vụ theo dõi đường đào thoát của bọn này hiện còn sống tại Hoa Kỳ. Hồi ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường xuất bản năm 2000 cũng có xác nhận chuyện này.
2- Vụ giải thoát tên Nguyễn Tròn, nguyên bồi bàn nhà hàng Quốc Tế tại đường Phan Bội Châu: Nguyễn Tròn là tên việt cộng nằm vùng đại nguy hiểm. Hắn là tay chân đắc lực của ông Trí Quang và Hoàng Kim Loan.
Nguyễn Tròn trốn tại chùa Kim Tiên của Thích Chánh Trực, Hoàng Kim Loan cho giao liên đến đưa Nguyễn Tròn lên mật khu cưối tháng 6/1966. Mậu thân 1968 y từ mật khu về thành phố Huế giết vô số dân lành.
3- Cũng như hai trường hợp trên, Hoàng Kim Loan đã đưa Nguyễn Đắc Xuân đang trốn tại chùa Tường Vân, lên mật khu vào tháng 7/1966. Chùa Tường Vân là nơi ôn Tịnh Khiết trù trì. Ôn Tịnh Khiết đã chắc chắn không thể không biết Thích Chánh Trực và Nguyễn Đắc Xuân là những tên cộng sản trá hình

Do tình hình căng thẳng bởi sự lùng bắt ráo riết gắt gao của chúng tôi, nên Hoàng Kim Loan đã vấp phải lỗi lầm sơ đẵng về bảo mật và an ninh cá nhân, vì thế mà hành tung của y đã bị chúng tôi phát hiện từ cuối tháng 6/1966.
Sau một thời gian ngắn bám sát và theo dõi Hoàng Kim Loan, toán theo dõi lúc đó đã phát hiện và phúc trình cho tôi có đoạn nói rằng:
“Hoàng Kim Loan đã xâm nhập vào Chùa Linh Mụ một vài lần, nhưng tiếp xúc với ai trong chùa thì vẫn chưa phát hiện được”.
Một thời gian ngắn sau đó vào khoảng tháng 12/1966, chúng tôi đã tuyển mộ được một mật báo viên từ trong chùa, do đó chúng tôi phát hiện người mà Hoàng Kim Loan thường đột nhập vào chùa để tiếp xúc chính là ông Đôn Hậu. Ngoài ra cũng từ mật báo viên nầy chúng tôi phát giác Bà Tuần Chi tức Đào Thị Xuân Yến là cơ sở quan trọng của Hoàng Kim Loan, và bà ta cũng được cộng sản cài vào, và là tình nhân của ông Đôn Hậu.
Tôi phúc trình lên cấp cao hơn mọi sự việc, sau đó chúng tôi quyết định mở chiến dịch xâm nhập. Công việc đang tiến triễn tốt đẹp thì Mậu Thân 1968 xảy ra.
2:32 giờ đêm mồng một, rạng sáng ngày mồng hai Tết Mậu Thân, 10,000 quân Cộng Sản tấn công và chiếm Huế, trong số 10,000 quân nầy có 4700 quân chính quy, số còn lại là du kích, và đám cơ sở nội thành.
Số cơ sở nội thành nầy, đại đa số là thành phần tranh đấu năm 1966 của ông Trí Quang và Đôn Hậu, chúng thoát ly lên mật khu 1966 nay từ rừng xanh trở lại Huế và họ đã biến Cố Đô Huế thành một địa ngục có thật tại trần gian trong 26 ngày, hay là 624 giờ đau thương mà tính đến hôm nay, Mậu Thân là lịch sử thảm khốc nhất của Huế, đau đớn nhất Miền Nam, do bọn cộng sản chính quy và bọn tranh đấu nằm vùng gây ra

Sáu giờ sáng ngày mồng hai Tết Mậu Thân 1968, dân chúng Huế kinh hoàng khi nhìn lên kỳ đài Ngọ Môn, lá cờ vàng thân yêu không còn nữa, mà thay vào đó là lá cờ rất lạ, có 3 mảnh: hai bên màu xanh, giữa màu đỏ có ngôi sao vàng. Cờ này hoàn toàn không phải của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (vì cờ của MTGPMN chỉ có hai mảnh: nửa xanh nửa đỏ, giữa có sao vàng), cũng không phải cờ đỏ sao vàng của Cộng Sản Hà Nội. Đó là cờ của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình do Hồ Chí Minh và Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ thị cho Trung Tướng Việt Cộng Trần Văn Quang Tư Lệnh Quân Khu Trị Thiên cũng là Tư Lệnh Chiến trường Trị Thiên, và Lê Chưởng Chính Ủy mặt trận Trị Thiên thành lập, phong ông Lê Văn Hảo làm chủ tịch, ông Đôn Hậu làm phó chủ tịch, trước khi bọn chúng tấn công Huế. Đây là một tổ chức chính trị thứ 2 sau tổ chức Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Nhiệm vụ của tổ chức nầy là phát động một cuộc Tổng Nỗi Dậy của quần chúng Huế, khi lực lượng quân sự của VC tràn vào, nhằm thi hành một xảo thuật chính trị là đánh lừa dư luận trong nước và quốc tế rằng: Cuộc chiến tranh miền Nam là do chính dân chúng Miền Nam và những thành phần trí thức, tôn giáo, vì bất mãn với Ngụy Quyền, Ngụy Quân và đế quốc Mỹ mà tự phát động cuộc Tổng Nỗi Dậy. Chính vì vậy, những người như ông Đôn Hậu, Lê văn Hảo, Đào thị Xuân Yến, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân v.v đã được chúng bảo vệ tối đa để sử dụng làm những viên gạch lót đường cho chiêu bài “Người Dân Miền Nam Tổng Nỗi Dậy” này
Cuộc Tổng nỗi dậy trong Mậu Thân 1968 tại Huế được giao cho Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ, Hòa Bình đảm trách, và sử dụng một lực lượng quân sự gần 10,000 quân, gồm quân chính quy, du kích, và đông đảo nhất là đám nằm vùng mà bọn chúng phong là Quần Chúng Cách Mạng.

Vì chiến thuật, chiến lược, và mánh lới chính trị đó, nên trong suốt 26 ngày chiếm Huế, lá cờ duy nhất đã treo trên kỳ đài Ngọ Môn chỉ là cờ của Lực Lượng Liên Minh, Dân Tộc, Dân Chủ, Hòa Binh mà thôi, nói một cách nôm na, đó chính là: cờ của ông Đôn Hậu và Lê văn Hảo
Vậy, Lực Lượng Liên Minh, Dân Tộc, Dân Chủ, Hòa Bình tại Huế là do cộng sản đạo diễn, nhưng những diễn viên địa phương gồm những ai?
Sau đây là các diễn viên chính:
1- Chủ Tịch : Giáo sư Lê văn Hảo
Lê văn Hảo là Giáo sư Nhân chủng Học của trường Đại Học Huế.
2- Phó chủ Tịch: Hòa Thượng Thích Đôn Hậu
Ông Thích Đôn Hậu là Chánh Đại Diện Phật Giáo miền Vạn Hạnh. trù trì chùa Linh Mụ.
3- Tổng Thư Ký: Giáo sư Trung học Hoàng Phủ Ngọc Tường.
4- Phụ trách trí thức, học sinh, sinh viên: Nguyễn Đắc Xuân
Tuy thực chất chỉ là những con cờ của Đảng Cộng Sản, nhưng hẳn công luận phải đồng ý rằng, những con cờ đó, những người Miền Nam đó, đã từng say mê và hoạt động điên dại hết lòng hết sức cho cộng sản. Và nếu không phải là người thực thụ của chúng, bọn cộng sản có thể tin tưởng để vào những chức vụ này không?
Hãy nhìn các hoạt động điên cuồng man rợ của các tên đồ tể nằm vùng Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn thị Đoan Trinh v.v trong một hệ thống kết nối chặt chẽ với các ông Đôn Hậu, bà Tuần Chi, Lê văn Hảo, thì sẽ có câu trả lời là các ông Đôn Hậu, Lê văn Hảo, Tuần Chi có làm cộng sản hay không, có chịu trách nhiệm vụ Mậu Thân Huế hay không!
Điều đau lòng nhất không phải chỉ lực lượng cán binh Bắc Việt giết đồng bào Huế, mà còn là người Huế nằm vùng giết người Huế, giết rất dã man, chẳng hạn Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn thị Đoan Trinh, Nguyễn Đắc Xuân v.v…

Ngoài ra trong những ngày đầu chiếm Huế những người trong tổ chức Liên Minh, Dân Tộc, Dân Chủ, Hòa Bình này cũng đã được Bộ Tư Lênh Quân Khu Trị Thiên, thừa lệnh Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản, bổ nhiệm vào những chức vụ quan trọng trong chính quyền mới toanh của Thừa Thiên Huế mà Hoàng Kim Loan và Hoàng Lanh vừa thành lập, và đây danh sách chính quyền cách mạng tại Huế:
1- Chủ tịch ủy ban Nhân Dân Thừa Thiên-Huế:
Giáo Sư Lê Văn Hảo.
2- Phó chủ tịch Ủy ban Nhân Dân Thừa Thiên-Huế
Bà Đào Thị Xuân Yến tức bà Tuần Chi, nguyên Hiệu Trưởng trường nữ trung học Đồng Khánh Huế, người cực kỳ thân cận với ông Đôn Hậu vì nhiều lý do
3- Chủ tịch Tòa án Nhân Dân tại trường Gia Hội.
Giáo sư Hoàng Phủ Ngọc Tường.
4- Trưởng Ban An Ninh và bảo vệ Khu Phố: Nguyễn Đắc Xuân.

Thế nhưng, những ước tính và kế hơạch phát động quần chúng Tổng Nỗi Dậy tại Huế của Hồ Chí Minh và bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam đã thất bại hoàn toàn: bọn Việt Cộng đến đâu, dân chúng Huế kinh sợ bỏ chạy đến đó, chạy bán sống bán chết để về với quân đội quốc gia VNCH.
Còn nhớ trong ngày mồng hai, mồng ba Tết, tại Quận I và Quận II thị Xã Huế chính đích thân Nguyễn Đắc Xuân và toán An Ninh Bảo Vệ Khu Phố của y đã đi từng nhà một kêu gọi “dân chúng treo cờ của Lực Lượng Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hòa Bình của Ôn lên!” (Ôn Đôn Hậu), nhà nào không có thì lấy cờ Phật Giáo treo lên!”
Câu nói này của Nguyễn Đắc Xuân dân Huế đều biết, có chối cũng bằng thừa!
Nhưng dân chúng chẳng ai hương ứng cả. Cờ của dân chúng Huế là cờ vàng 3 sọc đỏ. Còn “Cờ của Ôn”, tức là cờ 3 mảnh : 2 mãnh màu xanh 1mãnh màu đỏ giữa có ngôi sao vàng, của LMDTDCHB là điều lịch sử không thể phủ nhận! Ôn không thể chối đó không phải là cờ của Ôn!

Nguyễn Đắc Xuân cũng đã xác nhận chuyện “mọi người treo cờ của Ôn lên, hay lấy cờ Phất Giáo treo lên!”, trong cuốn hồi ký của chính y.
Thế thì, thưa quý vị, qua nguyên văn lời ra lệnh của Nguyễn Đắc Xuân, “Cờ của Ôn”, quý vị thử nghĩ, ông Đôn Hậu có hoạt động cộng sản, có dính liếu vào vụ Mậu Thân không?
Và Nguyễn Đắc Xuân cũng đã xác nhận trong nhiều bài viết từ sau năm 1975 rằng ông Đôn Hậu hoạt động cộng sản đồng hội đồng thuyền đồng nhóm với y
Kế hoạch “Tổng Nỗi Dậy” bị thất bại, Hồ Chí Minh và bộ chính trị đảng Cộng Sản Việt Nam cho lệnh thi hành “Biện Pháp Bạo Lực Cách Mạng”, hay “Biện Pháp Đỏ” để răn đe dân chúng Huế.
Kết quả của “Biện Pháp Đỏ”, dưới danh nghĩa Lực Lượng Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hòa Bình, là 5327 thường dân vô tội bị thảm sát bằng cách cột thành chùm, đập đầu chôn sống, và 1200 người bị dẫn đi mất tich.

Sau 26 ngày chiếm Huế, lực lượng quân sự lẫn chính trị của Việt Cộng thảm bại, rút lui trước sự phản công ồ ạt của Quân Lực VNCH và Đồng Minh, nhưng bọn cộng sản Việt Nam và lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, con đẻ của Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam, con nuôi của các ông Đôn Hậu, Lê văn Hảo, đã để lại cho thành phố Huế, cho đồng bào một nghĩa trang lớn với những tang tóc đau thương, oan nghiệt ngút tận trời xanh. Huế sau Mậu Thân là một dãi khăn tang trắng từ thành phố lên đến Ba Đồn, nơi mồ chôn tập thể của 5327 thường dân vô tội bị sát hại bởi bản chất sát máu và lòng hận thù của những người Cộng Sản, và của những tên nằm vùng người Huế trong lực luợng liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình như:
Nguyễn Đắc Xuân, Phan Duy Nhân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Thị Đoan Trinh, và còn cả hằng trăm, hàng ngàn những cơ sở nội thành VC khác, mà đại đa số chúng là những kẻ chủ chốt trong vụ tranh đấu năm 1966 của Ông Trí Quang, Đôn Hậu, thoát ly lên Mậu khu khi cuộc tranh đấu thất bại, nay theo quân Việt Cộng trở lại Huế, trút mối hận xưa lên đầu người dân vô tội.

Trong những ngày binh lửa tại Huế và rồi một thời gian sau đó, đồng bào Phật Tử rất lo âu không hiểu “Ôn” Đôn Hậu Ở đâu? Ôn Đôn Hậu ở đâu?
Phật giáo đồ Huế đang tìm kiếm, hỏi thăm tin tức, nhưng chẳng ai biết “Ôn ở mô?”, thì bỗng nhiên, thật ngơ ngác bàng hoàng khi nghe lời kêu gọi của “Ôn” trên đài phát thanh Hà Nội gởi Phật Giáo đồ và đông bào Huế nội dung là:

“Hãy đoàn kết dứng dậy chống lại chính phủ miền Nam, chống lại Ngụy quyền, Ngụy quân và Đế quốc Mỹ”.
Chính là ôn chớ không ai khác! Giọng nói chính là của ôn Linh Mụ chớ không ai khác!

Dân chúng Huế xôn xao, kẻ thì nói Ôn bị Việt Công bắt đi, người thì nói “Ôn là Việt Cộng!”

Đến tháng 5 năm 1972 khi chúng tôi bắt được tên Trung Tá VC Hoàng Kim Loan thì các giả thuyết “Ôn Đôn Hậu bị Việt Cộng bắt đi ra Bắc”, hay “Ôn tình nguyện ra đi”, đã được xác quyết .
Lời khai của Hoàng Kim Loan về chuyện này đã được thẩm tra đi thẩm tra lại rất kỹ. Trưởng Trung Tâm Thẩm vấn, Trung úy Hồ Lang, phó Trung Tâm Thẩm Vấn, Trung Úy Nguyễn Thế Thông, Thiếu Tá Trương Công Ân, phó đặc biệt, và tôi thay phiên nhau cũng như phối hợp điều tra. Sau đó, vì sự việc quá quan trọng và quá lớn, tôi yêu cầu phía tình báo Hoa Kỳ CIA giúp kiễm chứng thêm bằng máy đo sự thật. Hồ sơ dày cộm này, bao gồm cả kết quả của máy đo sự thật, được chuyển y về Trung Ương, đích thân Thiếu Tá Trương Công Ân bay vào Sài Gòn, trình Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, Tư lệnh CSQG, Đặc Ủy Trưởng, Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo, kiên Tổng Thư Ký Hội Đồng An Ninh Tình Báo Quốc Gia hồ sơ nội vụ. Thiếu Tá Trương Công Ân hiện đang sống tại Bolsa, California
Các nhân chứng nêu trên, đã đích thân lấy khẩu cung Hoàng Kim Loan, bằng những kỹ thuật thẩm vấn điêu luyện nhà nghề, cũng như phối kiểm các bằng chứng, các sự kiện liên quan mà chúng tôi theo dõi đã lâu trong vụ án nằm vùng quá lớn này, hiện đang sống tại Hoa Kỳ, tiểu bang Kansas và California, nếu ĐLHT Quãng Độ và ông Võ Văn Ái muốn đối chất, tôi sẽ cung cấp số phone của họ, để 3 mặt một lời, để công khai minh bạch hóa một sự thật đã bị cố tình che dấu.
Tôi xin nêu tóm tắt lý lịch của tên Trung Tá điệp viên Cộng Sản để hai vị có thể đánh giá lời khai của y có mức độ khả tín và quan trọng thế nào. Thêm nữa, việc nhân vật Hoàng Kim Loan có thật hay không, xin hai vị liên lạc với tôi để phối kiểm với nhiều nhân viên tình báo VNCH có thẩm quyền khác, đã từng thẩm vấn Hoàng Kim Loan, thuộc vùng I, ngoài tôi. Bởi vì, vụ Hoàng Kim Loan là một vụ án nằm vùng lớn nhất tại Huế, có thể nói vụ án nằm lớn vùng nguy hiểm nhất tại Miền Nam, nên ngoài BCH/CSQG/TT-HUẾ và tôi ra, còn có nhiều giới chức thẩm quyền khác, không thuộc ty CSQG TT/Huế thẩm vấn y
Tiểu sử Hoàng Kim Loan:
Hoàng Kim Loan sinh 1920 tại xã Phong An, Quận Phong Điền Tỉnh Thừa Thiên.
Tham gia phong trào Việt Minh tại Xã Phong An, Phong Điền Thừa Thiên.
Tháng 10 năm 1944: được kết nạp vào đảng Cộng Sản Đông Dương.
Tháng 6/1945: được đảng phân công vào thành phố Huế, hoạt động trong phong trào học sinh Huế. Đã cùng với Tố Hữu tham gia tổ chức cuộc biểu tình trước cửa Ngọ Môn yêu cầu Hoàng Đế Bảo Đại thoái vị.
1946: Cán bộ cao cấp thuộc Tổng Cục Quân Báo. Trực thuộc Bộ Quốc Phòng. Địa bàn họat động thành phố Huế. Trách nhiệm: xây dựng cơ sở bí mật.
Đình chiến 1954, với chức vụ Thành ủy viên Thành Ủy Huế. Trưởng cơ quan Điệp Báo thành phố Huế, phụ trách Trí Vận và Tôn Giáo Vận. Đương sự được chỉ thị bí mật ở lại Huế để họat động.
1959 được phong quân hàm Trung Tá.
1963-1966 hoạt động chặt chẽ với Trí Quang, Đôn Hậu, Thiên Siêu, Chánh Trực trong công tác phát động quần chúng nỗi dậy đấu tranh lật đổ Đệ I Cộng Hòa, và vụ phản loạn năm 1966, với chiêu thức Bàn Thờ Phật Xuống Đường tại Huế.
Mậu Thân 1968, phụ trách Tổng khởi nghĩa tại Huế. Phụ trách thành lập Lực Lượng Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hòa Bình, đồng thời cũng phụ trách tổ chức chính quyền Cách Mạng tại Huế.
1969 Giữ chức Thường Vụ Thành ủy Huế
1969 giữ chức vụ trưởng cơ quan Điệp Báo Quân Khu Trị Thiên Huế.
Tháng 5/1972 bị lực lượng CSQG Thừa Thiên-Huế bắt sống tại Vỹ Dạ, Thừa Thiên-Huế.

Theo Hoàng Kim Loan khai, thì Ông Thích Đôn Hậu là cơ sở tôn giáo vận của y từ trước 1963. Trong vụ lật đổ Đệ I Cộng Hòa và vụ phản loạn vào tháng 6/1966 của Ông Trí Quang tại miền trung đặc biệt là tại Huế, thì y được lệnh của Tổng Cục Tình báo chỉ thị phối hợp làm việc chặt chẽ với Trí Quang, Đôn Hậu, Thiện Siêu, Chánh Trực thực hiện hai công tác này.
Ngoài ra, để kiểm chứng lời báo cáo của mật báo viên của ty CSQG TT/Huế cài tại chùa Linh Mụ, chúng tôi có thẩm tra Hoàng Kim Loan về quan hệ tình ái giữa ông Đôn Hậu và bà Tuần Chi, Hoàng Kim Loan xác nhận là có. Và chúng tôi cũng điều tra ngược lại, hỏi Hoàng Kim Loan rằng phải chăng đây là chiêu “mỹ nhân kế” có tính toán, mà các anh sử dụng để điều khiển và khống chế đối tượng? Hoàng Kim Loan cũng không ngần ngại chấp nhận đó là một trong những chiến thuật của cộng sản

Việc thoát ly ra Bắc của Ông Đôn Hậu trong Tết Mậu Thân 1968 tại Huế là tự nguyện hay bị bắt buộc?
Ông Thích Đôn Hậu có phải là Cộng Sản hay không?

Theo Hoàng Kim Loan khai, việc thoát ly của ông Đôn Hậu ra Bắc không là một chuyện tình cờ hay ép buộc gì cả, vì trước Tết Mậu Thân, Hoàng Kim Loan đã trình bày rất kỹ lý do sự cần thiết của ông Đôn Hậu cho sách lược tuyên truyền quốc tế của cộng sản, và vì vậy, là một vũ khí chính trị lợi hại của Đảng. Do tầm quan trọng của ông Đôn Hậu đối với sách lược chống Mỹ Thiệu của Đảng, nên ông Đôn Hậu đã đồng ý ra Bắc cùng với một số cơ sở trí vận, tôn giáo vận tại Huế, cùng đi, dĩ nhiên có bà Tuần Chi. Với số nhân sự thập loại thành phần, giới nào cũng có, gốc gác Miền Nam này, chính phủ Cộng Sản Hà Nội đã thành lập một “phái đoàn đại diện cho dân chúng Miền Nam” xuất ngoại truyên truyền với thế giới rằng cho cuộc chiến của “nhân dân Miền Nam” là cuộc chiến mà Nhân Dân Miền Nam tự nỗi dậy, chống bè lũ ác ôn Mỹ Ngụy đàn áp tôn giáo, đàn áp trí thức đối lập, đàn áp sinh viên học sinh, đàn áp dân chúng. Rằng chính quyền Miền Nam là một chính quyền phi nghĩa, kiểu Diệm mà không Diệm!
Hành động như vậy, toàn bộ nhóm nằm vùng Miền Nam gốc Huế thi hành nhiệm vụ quốc tế này, kể cả ông Đôn Hậu, đã bất chấp đức công bằng, chà đap lên sự kiện là cả hai chính quyền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa đều do đa số dân bầu ra, ngoại trừ một thiểu số chống đối như họ,dĩ nhiên, bỡi vì, chính họ là cộng sản nằm vùng! Cho dù là các người này không thích chính quyền Miền Nam, nhưng họ phải chấp nhận rằng 2 chính quyền VNCN là chính quyền hợp pháp được đa số dân chúng tin nhiệm và giao phó trách nhiệm điều hành quốc gia. Dân chúng không giao quyền điều hành quốc gia cho ông Đôn Hậu, Trí Quang. Họ đã phản loạn đi rêu rao với quốc tế là chính quyền Miền Nam là chính quyền phi nghĩa. Họ đã chà đạp lên những lá phiếu của đa số dân chúng
Như vậy, chiếu theo luật pháp các nước dân chủ, những người này, những kẻ gọi là phong trào Phật Giáo Tranh Đấu, mà thực chất là cộng sản lãnh đạo giật dây từ xa, cả ông Đôn Hậu Trí Quang, đã chà đạp lên kết quả 2 cuộc bầu cử, đã vi phạm luật pháp quốc gia, đã phản loạn theo địch

Những thành phần đại diện trí thức, tôn giáo phản loạn được tuyển chọn rời Huế ra bắc gồm có:
1- Lê Văn Hảo
Giáo sư nhân Chủng Học thuộc viện Đại Học Huế.
Chủ Tịch lực Lượng Liên Minh Dân Chủ hòa Bình.
Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa Thiên Huế (chính quyền do VC thành lập trong thời gian Tết Mậu Thân tại Huế)
2- Ông Thích Đôn Hậu
Chánh Đại Diện Phật Giao Ấn Quang Miền Vạn Hạnh (Miền Trung)
Ông Đôn Hậu là Phó chủ Tịch Lực Lượng Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hòa Bình (trong thời gian Mậu Thân tại Huế.)
3- Bà Đào thị Xuân Yến tức bà Tuần Chi.
Bà Đào thị Xuân Yến nguyên Hiệu trưởng trường Nữ Trung Học Đồng Khánh Huế.
Bà Đào Thị Xuân Yến là phó chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa Thiên-Huế.
4- Giáo sư trung học Tôn Thất Dương Tiềm
5- Giáo sư Nguyễn Thúc Tuân

Đây là một cuộc ra đi có tính toán, sắp đặt của chính phủ Cộng Sản Hà Nội, và đồng thời cũng có sự hưởng ứng đồng tình của ông Đôn Hậu, chứ không như một số phật giáo đồ và ĐLHT Thích Quãng Độ cũng như GS Võ văn Ái nghĩ. Sau này, nếu có sự việc ông Đôn Hậu đòi về Miền Nam, thì cũng quá dễ hiểu, bởi vì: ông đã nếm mùi cộng sản và ông chống đối việc cộng sản quyết tâm hòa nhập GHPGVNTN vào với GH quốc doanh. Nếu cộng sản cho ông hoạt động độc lập, không bắt ép GHPGVNTN, vào với Đảng, có lẽ, ông đã không chống Đảng.
Ông đã Ngộ thế nào là thiên đường cộng sản, kính thưa ĐLHT, thưa ông Võ Văn Ái!
Câu chuyện Ông Thích Đôn Hậu đã bị một toán Việt Cộng dí súng Ak vào lưng dẫn đi là một câu chuyện hoang đường, tự biên tự diễn, tự giả đoán để bảo tồn danh tiếng của một thần tượng. Không ai trong nhóm đưa ra lý thuyết này có mặt trong ngày hôm ông Đôn Hậu ra đi, họ chỉ nghe đương sự kể lại. Họ cũng không là giới chức có thẩm quyền có liên hệ, để có thể biết chắc chắn và phát biểu một cách tương đối nghe được
Còn chúng tôi, BCH lực lượng CSQG TT/Huế đã bám sát Hoàng Kim Loan từ lâu, và khi cài được mật báo viên vào trong chùa Linh Mụ, thì với tin đồn “ Ôn bị Việt Cộng bắt đi” chúng tôi chỉ phì cười. Ôn đi ra Bắc để chiêm ngưỡng Bác Hồ chứ đi đâu! Ôn hoạt động chung với Hoàng Kim Loan mà sao nói là Đảng bắt buộc Ôn đi? Oan cho Đảng quá!
Và lời khai của khi bị điều tra của Hoàng Kim Loan chỉ là một việc xác nhận cuối cùng của những kẽ trong cuộc đồng hội đồng thuyền với ông Đôn Hậu
Tóm lại, nhóm đưa ra giả thuyết ông Đôn Hậu bị Việt Cộng bắt đi không thể nào thuyết phục được những người có sự suy nghĩ khoa học, hữu lý, độc lập, rạch ròi và công bằng, và dĩ nhiên, sẽ không bao giờ thuyết phục đươc lịch sử. Bởi vì, phía bao che cho ông Đôn Hậu chẳng đưa ra được một bằng chứng, một sự kiện, để chứng minh một cách hữu lý. Tất cả chỉ là một lời tuyên bố suông, kiểu của các can phạm thường sử dụng để chối tội, như sau:
Ông Đôn Hậu đã nói rằng ông ta bị Việt Cộng bắt đi!
Ông Lê văn Hảo cũng tuyên bố như vậy!
Rồi Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân cũng tuyên bố kiểu như vậy là không tham gia vụ giết người tập thể Tết Mậu Thân
Thưa quý vị, có một câu nói rất dân gian là: Có ai chịu cha ăn cướp?
Có ai có chút máu mặt trong giới lãnh đạo tôn giáo Miền Nam từng hoạt động cộng sản dám nhận mình là cộng sản?
Trí Quang có nhận mình làm cộng sản hay không?
Câu trả lời là bằng chứng tìm thấy, chứ không phải là những lời tuyên bố suông “Tôi không làm cộng sản, tôi bị cộng sản bắt”!
Các ngài đã bán mình cho cộng sản, Nhưng đâu dễ chối tội như vậy?
Quý vị dễ dàng chứng minh ông Đôn Hậu đã bị Việt Cộng bắt như vậy sao? Người dân Miền Nam có sự suy luận rạch ròi của họ.
Không phải cứ làm lãnh đạo tôn giáo tối cao là không thể làm cộng sản !

Kính thưa ĐLHT Thích Quang Độ, Thưa ông Võ văn Ái, trên đây là lời khai của Hoàng Kim Loan, người chúng tôi bắt được, sau đây là lời “không đánh mà khai” của các đương sự khác, đó là bà Đào Thi Xuân Yến tức bà Tuần Chi, Nguyễn Đắc Xuân, Đỗ Trung Hiếu. Những người này LL CSQG không bắt được, có nghĩa là LL CSQG 100% không thể nào dựng chuyện được, nhưng họ đã “không đánh mà khai” sau 1975 như sau:
Thứ nhất, lời “không đánh mà khai” của bà Tuần Chi
Không hiểu hai vị đã có đọc cuốn hồi ký của bà Đào thị Xuân Yến tức Bà Tuần Chi kể lại chuyện ra đi của Ông Thích Đôn Hậu cùng bà ta và phái đoàn trí thức miền Nam ra bắc?, trên đoạn đường thơ mộng của núi rừng trường sơn ngút ngàn hay chưa? Tôi chắc là Hòa thượng chưa đọc, cũng như một số người dân Miền Nam chưa đọc, nhưng có lẽ ông Võ Văn Ái đã đọc. Đó là cuốn hồi ký : Cành Hoa Trắng, do bà Tuần Chi viết

Sở dĩ bà ta lấy tên cuốn hồi ký là Cành Hoa Trắng vì trong khi di chuyển trên đường núi rừng Trường Sơn để đến với Bác và Đảng, bà ta đã đánh rơi chiếc ví dựng tiền của mình. Một nữ cán bộ cộng sản đã nhặt được và giao trả lại cho bà, cảm kích vì hành động trong trắng của người nữ cán bộ bác Hồ, bà Tuần Chi liền ví tấm lòng nữ cán bộ bác Hồ đó là cành hoa trắng, nên đã dùng hình ảnh này làm tựa đề cho cuốn sách, cũng là có ý đề cao các bộ cộng sản có tấm lòng trong trắng như thế
Trong hồi ký Cành Hoa Trắng đó, bà Đào thị Xuân Yến nói rằng:
“Ôn được ra Bắc chữa bệnh, vì thời gian ở Huế, Đế quốc Mỹ đã rãi chất độc khai quang trên rừng, nước sông Huơng bị nhiễm chất độc đó. Ôn Đã uống nuớc sông Hương, bị nhiễm độc nên hộc máu, vì thế Ôn ra Bắc để chữa bệnh.”
Có ai ở xứ Huế, có bác sĩ nào ở Huế thời ấy biết gì về căn bệnh uống nước sông Hương mà hộc máu không?
Ngoài ngài Đôn Hậu ra, có người dân thường lam lũ nào uống nước sông Hương mà bị hộc máu phải ra Bắc chữa bệnh không?
Rồi tôi tự hỏi, không biết bà Tuần Chi có bị bịnh hộc máu đó không nhỉ? Mà cũng đi với ông Đôn Hậu?
Có lẽ các bệnh viện của Miền Nam không đủ trình độ chữa bệnh cho ngài Ôn Linh Mụ, nên Ôn phải vượt Trường Sơn ra Bắc chữa bệnh, tiện thể, Ôn diện kiến bác Hồ kính yêu, giúp Bác tuyên truyền tội ác đàn áp tôn giáo, bách hại Phật Giáo, đàn áp nhân dân của “Mỹ- Diệm- Thiệu” cho nhân dân thế giới biết?
Quả là lời phát biểu của một vị Hiệu Trưởng trường trung học! Mới thấy, những kẽ mê theo cộng sản, cái gì cũng có thể nói, để kết tội Mỹ Ngụy, mà không kể đúng sai hay là bá láp, cho dù là người có học, đã từng là hiệu trưởng một trường nữ trung học nỗi tiếng của Miền Nam
Nhưng điều đáng nói ở đây, cho dù là viện cớ nước sông Hương có độc, bà ta đã thành thật nói rằng “Ôn được ra Bắc chữa bệnh”.
Thiết nghĩ, lới phát biểu của chính bà Tuần Chi, tình nhân ông Đôn Hậu, đã quá đủ để trả lời ĐLHT Thích Quảng Độ và ông Võ Văn Ái câu hỏi: ông Đôn Hậu có phải là cộng sản?

Thứ 2, lời “không đánh mà khai” của Nguyễn Đắc Xuân:
Xuân cũng là đệ tử của ôn Trí Quang Đôn Hậu, mới đây vào tháng 10/ năm 2009, trên nhiều báo, đặc biệt là báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam như sau:

Xuất thân trong các cuộc vận động của Phật giáo (1963-1966), thời đi theo kháng chiến (1966-1975), tôi có nhiều dịp chuyển thư từ, hình ảnh của Hòa thượng Thích Đôn Hậu và bà con Phật tử tập kết ngoài miền Bắc vào cho các chùa và đồng bào theo Đạo Phật ở Huế.
Cuối những năm 80 của thế kỷ trước, tôi được Thành ủy Huế mời đóng góp bài cho cuốn sách Bác Hồ trong lòng dân Huế. Trong tay tôi đã có sẵn bài “Ba lần được gặp cụ Hồ” của Hòa thượng Thích Đôn Hậu, mà tôi đã ghi được ngay sau ngày Việt Nam thống nhất, tôi xin bà Tâm Hải Đào Thị Xuân Yến (tức bà Nguyễn Đình Chi) đệ tử của Hòa thượng Thích Đôn Hậu bổ sung thêm bài Vinh dự lớn lao. Bà Tâm Hải bảo tôi: Sư bà Thích Nữ Diệu Không rất quý trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, nên xin gặp Bà và đề nghị Bà viết cho một bài. Tôi đến xin gặp Sư bà ngay nhưng lúc ấy Sư bà không có ở Huế.

Xin quý vị cho ý kiến về lời tự tình của Nguyễn Đắc Xuân về Ôn Linh Mụ làm gì ngoài nớ, về việc Ôn “3 lần được gặp cụ Hồ”

Thứ 3, lời “ không đánh mà khai” của Đỗ Trung Hiếu
Đỗ Trung Hiếu là ủy viên quan trong trong Ủy Ban Tôn Giáo Chính Phủ, xuất thân trong phong trào Phật Giáo Tranh Đấu tại Khánh Hòa, 1962-1963, thành viên Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc, sau 1975, hiện nguyên hình là đảng viên cộng sản, phụ trách Tôn Giáo Vân. Năm 1990, Ngộ, nên bỏ Đảng và chống Đảng, lời “khai” như sau:

Hòa thượng Thích Ðôn Hậu, chánh thư ký Viện Tăng thống GHPGVNTN, thoát ly vào chiến khu trong dịp Tết Mău Thân (1968), tham gia Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hòa bình Việt-Nam với tư cách phó chủ tịch và chủ tịch là Luật sư Trịnh Đình Thảo. Sau giải phóng hòa thượng gởi kiến nghị đến tổng bí thư Ðảng Lê-Duẫn, chủ tịch Nước Tôn-Ðức-Thắng, chủ tịch Quốc hội Trường-Chinh và thủ tướng Phạm-Văn-Ðồng về việc thống nhất Phật giáo Việt Nam. Hòa thượng nói rõ : “Khi đất nước bị xâm lược tôi làm nghĩa vụ công dân, nay đất nước độc lập, tôi trở lại chu toàn việc Ðạo, và trước hết là vận động cho công cuộc thống nhất Phật giáo Việt-Nam”. Về nguyên tắc các nhà lãnh đạo Ðảng Cộng sản và Nhà nước Việt-Nam đồng ý. Nhưng đi vào cụ thể thì không chấp nhận quan điểm thống nhất Phật giáo của hòa thượng Ðôn-Hậu.

Xin được giải thích thêm về luật sư Trịnh Đình Thảo: Y là chủ tịch lực lượng LMDTDCHB tại trung ương Hà Nội, phó chủ tịch là ông Đôn Hậu. Tại địa phương Huế, Lê văn Hảo giữ chức chủ tịch, ông Đôn Hậu kiêm luôn phó chủ tịch tại Huế

Với những thông tin trên từ cựu đảng viên quan trọng phụ trách tôn giáo vận trung ương Đỗ Trung Hiếu, xin nhường lời lại cho công luận đánh giá, thử xem ngài Đôn Hậu có phải cộng sản? và tại sao ngài sau này lại không ưa Đảng?
Với 3 nhân vật tiêu biểu, cả ba đều hoạt động cộng sản, nhất là bà Tuần Chi, người mà không ai có thể biện minh không là cộng sản nằm vùng, bà ta đã cùng chung bước đường Trường Sơn với ngài Đôn Hậu. Ngoài Hoàng Kim Loan ra, các kẻ này đã giấy trắng mực đen xác nhận ông Đôn Hậu tự ý thoát ly theo cộng sản, thì ĐLHT Quảng Độ và ông Võ Văn Ái cũng như công luận đánh giá sao cho công bình đây? Công luận nghe họ, hay nghe lời một bà vớ vẫn không chân dung nào đó trong rừng, hay nghe lời “tâm sự” chối tội suông của ông Đôn Hậu sau khi sự việc đã rồi?
Thưa, không dễ chối tội kiểu như vậy thưa ngài Đôn Hậu! Ngài có thể tâm sự nói thế này thế nọ với những người không biết gì hết hầu cận quanh ngài, nhưng tôi chắc ngài không thể chạy tội trước BCH/CSQG/TT/HUẾ, cũng như các tên Nguyễn Đắc Xuân, Đỗ Trung Hiếu, bà Tuần Chi. Họ đã lạy ông tôi ở bụi này hết rồi

Tóm lại tôi đã đưa ra khá đầy đủ về thân thế, những liên hệ và hoạt động của Ông Đôn Hậu với Cộng Sản, nhất là liên hệ chặt chẽ của ông ta với tên trung tá điệp viên cộng sản Hoàng Kim Loan tài ba ma mãnh, kiến trúc sư của mọi biến loạn tại Huế trước 1972 cùng tên tuổi của những nhân chứng còn sống biết chuyện ông Đôn Hậu làm cộng sản, ĐLHT Thích Quảng Độ và ông Võ Văn Ái cần tôi chứng mình gì thêm không?
Kết luận như đinh đóng cột của BCH/CSQG/TT-HUẾ và cá nhân tôi từ trước 1975, cho đến bây giờ vẫn là: ông Đôn Hậu là cộng sản. Chuyện đơn giản như 2 cộng 2 là bốn.
Rõ như ban ngày, chỉ có những người không thể chấp nhận việc thần tượng bị xóa xổ, mới cố gắng lừa dối công luận và lừa dối chính mình. Họ cho rằng ông Đôn Hậu không là cộng sản bởi vì ông Đôn Hậu không thể là cộng sản, đơn giản là như vậy, và cố gắng chối bỏ những sự kiện quá rành rành cho thấy ông ta là cộng sản
Nhưng công luận có quyền của công luận:

Ông Thích Đôn Hậu hoạt động cho Cộng Sản trong nhiệm vụ mà Cục Tình Báo Chiến lược VC giao phó, qua tên Trung Tá điệp viên Cộng Sản Hoàng Kim Loan, nhiệm vụ được giao cho là Tôn Giáo Vận. Thực chất của Tôn Giáo Vận là gì? đó là: Lợi dụng màu áo tu hành, lợi dụng chức vụ, lợi dụng lòng tôn kính của phật tử để hoạt động theo chỉ thị của đảng cộng sản mà thôi.
Và vì thế, sự ra đi của Ông đôn Hậu trong Mậu Thân 1968 không là ép buộc, và ông Đôn Hâu đồng ý đi ra Bắc để lãnh nhận nhiệm vụ quan trọng hơn: là xuất ngoại với tư cách là đại diện cho quần chúng Miền Nam truyên truyền chính nghĩa cho cuộc xâm lăng của Cộng sản tại Miền Nam Việt Nam và từ đó xin viện trợ, chiến tranh phí cho Cộng Sản Hà nội, đồng thời tạo lý do cho bọn nhà báo phản chiến thiên cộng phương tây tấn công lên án chính quyền VNCH là chính quyền phi nghĩa, là chính quyền đàn áp tôn giáo. Còn ai có thể có uy tín hơn, ép phê hơn, là một nhà sư có tiếng của Miền Nam tố cáo chính phủ Miền Nam đàn áp tôn giáo? Dư luận lên cao có lợi cho cộng sản đến độ đưa đến việc bọn phản chiến được bầu vào quốc hội mùa thu năm 1974, bọn này cắt viện trợ cho Miền Nam và Cambodge, khai tử Miền Nam
Tất cả điều này đều nằm trong chiến lược và chiến thuật của cộng sản, và ông Đôn Hậu cùng đồng bọn ra đi theo đường Trường Sơn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng giao phó, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam cũng vậy!
Gần đây, khi đi thuyết trình nhiều nơi về cuốn Biến Động Miền Trung, từ các tiểu bang tại Hoa kỳ, sang đến Úc châu, và Âu Châu, thỉnh thoảng tôi cũng nghe một vài thính giả, độc giả, mà đa số họ là Phật tử người Huế nói rằng:
“Mậu Thân 1968 Ôn Đôn Hậu đã bị một tiểu đội Việt Cộng vào chùa dí súng bắt Ôn đi, chứ không phải Ôn đi theo Việt Cộng mô!”.

Tôi hỏi lại, quý vi có thể chứng minh điều mà quý vị nói không?
Họ chỉ nói rằng tôi nghe người ta nói như vậy. Và cứ như thế, câu truyện truyền đi. Nhưng có một bà, đó là bà Tuần Chi, người kề cận nhất với Ôn, lại nói ngược: Ôn được ra Bắc chữa bệnh!
Sao mà lại có chuyện trống đánh xuôi, kèn thổi ngược như thế?
Ai cũng có thể thêu dệt ra huyền thoại Ôn nói thế này Ôn nói thế kia như thế!
Và Ôn cũng có thể thâu băng để lại tâm sự rằng Ôn đã bị Việt Cộng bắt như thế!
Thưa ĐLHT Thích Quảng Độ và ông Võ văn Ái! Sau khi Ôn đã nếm mùi cộng sản được 8 năm ngoài Hà Nội, thấy rằng, Đảng còn đày đọa Phật Giáo hơn cả Diệm Thiệu, những người mà một số vị lãnh đạo Phật Giáo và chính Ôn căm thù còn hơn cộng sản! rồi sau đó thấy rằng cộng sản còn tàn ác hơn cả Diệm Thiệu, cộng sản là tai họa cho quốc gia, mà chính Ôn cũng đã đóng góp trong việc giúp cho cộng sản xâm lăng đất nước, thì Ôn bắt đầu trở cờ chối tội.
Nhưng đã trễ cho Ôn rồi, cho tôi hỏi Ôn, cũng xin hỏi ĐLHT, hỏi ông Võ Văn Ái, quý vị nghĩ sao về phát biểu của bà Tuần Chi, người đã cùng ông chia xẽ đoạn đường Trường Sơn thơ mộng:
Ôn đã được ra Bắc chữa bệnh!

Tôi không thể ngờ rằng ĐLHT Thích Quảng Độ và ông Võ Văn Ái lại dễ tin đến như vậy, hay là hai vị cho rằng công luận chỉ là những đứa trẻ con, các vị nói sao người ta tin vậy?
Tôi xin nhắc lại câu nói thường tình cửa miệng: Không ai chịu cha ăn cướp!
Và Ôn cũng không thể chối cãi với các mật báo viên của ty CSQG/TT-Huế là Ôn không gặp gỡ Hoàng Kim Loan như cơm bữa
Và cuối cùng, Ôn Linh Mụ khó có thể đối chất với Trung Úy Đoàn Lang, Trung Úy Phan Thế Thông, Thiếu Tá Trương Công Ân, và với TT CSQG Liên Thành, tất cả hiện đang ngụ tại Hoa Kỳ, nếu như Ôn còn sống

Trở lại chuyện ông Võ Văn Ái nói rằng ông có hai cuốn băng thâu lời nói của ông Đôn Hậu về vụ ra Bắc của ông ta. Hai cuốn băng nầy là đủ bằng chứng chứng minh sự ra đi của ông Đôn Hậu trong Mậu Thân 1968 là bị bắt buộc ?!
Tuyệt vời! Thiên hạ cứ noi gương ngài Đôn Hậu, cứ việc làm cộng sản, sau đó thâu băng để lại rằng mình không làm cộng sản, là xong!
Ông Lê Văn Hảo cũng đã noi gương ngài Đôn Hậu, nói rằng bị cộng sản bắt. Sao cộng sản không bắt ông Lê văn Tí, Lê văn Tèo nào đó, mà lại bắt ông Lê Văn Hảo làm chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố? Ty CSQG TT/Huế không hề ghi nhận được cá nhân nào tại Huế không làm cộng sản mà được cộng sản phong cho chức nọ chức kia cả
Tôi cũng xin trích ra đây, một đoạn trong hồi ký của Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang, nói về cảm nghĩ của ông khi gặp lại ông Đôn Hậu, Đệ tứ Tăng Thống cũng không thể chắc rằng ông Đôn Hậu ra đi là bị bắt buộc, hãy đọc một đoạn như sau của ĐLHT Huyền Quang:
“Tại cuộc họp nói trên, Viện Hóa Đạo khám phá ra chuyện bất ngờ. Nguyên do chư Tăng có thể khác ý kiến nhau về việc đời, nhưng việc đạo thì hợp nhất dưới ánh hào quang chư Phật. Lần đầu tiên tiếp xúc lại với Hòa Thượng Thích Đôn Hậu xa cách 8 năm trời kể từ năm Mậu Thân, chúng tôi có phần nghi ngờ không biết lập trường ngài cư xử với GHPGVNTN nay ra sao. Hòa Thượng còn nói tiếng nói của Phật Giáo hay nói thay cho chính quyền?”
Sau đó Đệ Tứ Tăng Thống đã vui mừng vì, về việc đạo, Hòa Thượng Thích Đôn Hậu đối với GHPGVN cũng như xưa. Còn việc đời, Đệ Tứ Tăng Thống không dám nói gì cả
Đúng như thế!Việc đạo, ông Đôn Hậu chung với Đệ Tứ Tăng Thống, việc đời, ông Đôn Hậu là một người hoàn toàn khác. Ông tu hành nhưng đi theo cộng sản, đến khi chạm trán với bộ mặt thật của cộng sản, ông mới thấy rằng cộng sản là ác quỷ, ông mới thấy cộng sản đàn áp ông và giáo hội của ông gấp 30 lần bọn Mỹ- Diệm- Thiệu, theo như ông nhận xét. Khi mất, ông không muốn cộng sản làm tang lễ cho ông, và ông giao ấn tín của GHPGVNTN lại cho Đệ Tứ Tăng Thống
Điệp viên cộng sản Phạm Xuân Ẩn cũng thế, trước khi chết, ông ta có ước muốn không muốn chôn chung với những tên cộng sản
Lần nữa, tôi không tranh cãi về con người của ông Đôn Hậu sau 1975. Và tôi tin rằng sau đó, ông đã thấy mình lầm lẫn, không còn muốn theo chúng nữa. Ai cũng thấy vậy

Tuy nhiên, cũng mong ĐLHT và ông Võ Văn Ái công bố cuốn băng của ngài Đôn Hậu cho công luận tường
Ngoài ra, không hiểu Giáo sư Võ văn Ái có thâu được câu nói cùa Ông Đôn Hậu với Dân Biểu VNCH Nguyễn Lý Tưởng trước Tết Mậu Thân, khi ông Dân Biểu từ Saigòn ra Huế “thăm dân cho biết sự tình” và ghé chùa Linh Mụ để thăm vị lãnh đạo tinh thần của Phât giáo đồ miền trung. Ông Đôn Hậu đã phát biểu cảm nghĩ của Ông ta đối với Quân lực VNCH như sau:
“ Lính Việt Nam Cộng Hòa đi đến đâu thì phá phách đến đó, trong khi quân đội Giải Phóng đi đến đâu thì không làm rơi rụng một ngọn lá khoai”.
Với câu nói này của ông Đôn Hậu, xin mời tất cả những ai đã công hiến tuổi thanh xuân của đời mình cho lý tưởng quốc gia, cầm súng chống quân thù, đem tính mạng của mình để đem lại những giờ yên ổn cho những người như ông Đôn Hậu có giờ tụng kinh niệm Phật, có giờ hoạt động chung với Hoàng Kim Loan, lên tiếng!
Cần liên lạc với Dân biểu Nguyễn Lý Tưởng, xin liên lạc với tôi
Rồi sau câu nói của Ông Đôn Hậu với Dân Biểu Nguyễn lý Tưởng, chỉ một hai ngày sau, thì 10,000 quân Giải Phóng tràn vào Huế, giết hại 5327 thường dân vô tội, bắt đi mất tích 1200 người.
Trong lúc Quân Lực VNCH đem tính mạng của mình phản công chiếm lại Huế, bảo vệ sinh mạng và tài sản của đồng bào Thừa Thiên- Huế, Quảng Trị trong đó có cả thân nhân ruột thịt của ông Đôn Hậu tại quận Triệu Phong, Tỉnh Quảng Trị, mà số tổn thất của quân đội VNCH trên 1000 người, ông Đôn Hậu và những người bênh vực ông Đôn Hậu nghĩ sao? Ông Võ Văn Ái và ĐLHT nghĩ sao? Ông Đôn Hậu đã có cầu nguyện cho những linh hồn này được siêu thoát không? Hay là ông vẫn căm thù bọn lính Ngụy đi đến đâu thì phá làng phá xóm đến đó?

Phần tôi, với suy nghĩ và tình cảm đơn sơ của một người lính, mà chẳng cần phải làm ngành tình báo, làm TT CSQG, tôi có thể nói rằng, chỉ có làm cộng sản mới có thể phát biểu như vậy!

Ngoài ra cũng trong thời gian đi thuyết trình tại một vài nơi ở Hoa Kỳ tôi có nhân được một bức email của bà Tôn Nữ Ngự Bình phổ biến, nội dung bức thư gồm có 9 điểm để biện minh cho ông Đôn Hậu như sau:
Thượng tọa Thích Đôn Hậu không phải là cộng sản, bằng chứng là sau khi Việt Cộng chiến trọn Miền Nam, Ông Đôn Hậu đã trở lại sinh sống tại Chùa Linh Mụ Huế, và quyết liệt chống lại Cộng Sản. Như vậy những đều tôi nói về Ông Đôn Hậu là sai, không đúng sự thật.

Tôi có trả lời vời bà Tôn Nữ Ngự Bỉnh rằng:
Tôi và Bà đề cập đến ông Đôn Hậu trong hai quảng thời gian khác nhau, và cũng trong hai hoàn cảnh khác nhau của ông ta.Tôi có thể nói một cách đơn giản thế này: Trước tháng tư năm 1975, ông hoạt động đắc lực cho cộng sản, với đầy đủ chứng cớ. Sau 1975, ông đã thấy rõ bộ mặt đểu giả tàn ác của cộng sản thì ông từ bỏ nó. Chuyện đơn giản là như vậy. Tôi nói về ông Đôn Hậu qua 2 giai đoạn, trước 1975 và sau 1975, còn bà Ngự Bình chỉ dùng giai đoạn sau 1975 để nói về toàn cảnh con người ông Đôn Hậu. Nói như bà Ngự Bình là không đầy đủ, cho nên kết luận của bà về ông Đôn Hâu là thiếu sót, ngô nghê, và vô lý
Dương Thu Hương, Bùi Tín, Trần Độ, Nguyễn văn Trân, Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Nguyễn Anh Kim và rất nhiều nhiều người cộng sản khác cũng hành động như ông Đôn Hậu. Cũng chống lại Đảng Cộng Sản. Có người sẽ tha thứ cho việc làm cộng sản của họ, và cũng có người sẽ không bao giờ tha thứ cho họ được, bỡi vì cộng sản là thảm họa của nhân loại, thảm họa của Việt Nam. Tội ác cộng sản quá lớn! Ai tham gia tạo ra nó đều phải ít nhiều nhận lãnh trách nhiệm

Phần tôi đề cập, là ông Đôn Hậu của thời điểm trước 1975. Tôi nêu ra những sự việc mà ông ta đã làm, những người mà ông ta cộng tác chung, như Hoàng Kim Loan và bọn cộng sản giả danh trong phong trào Phật Giáo Tranh Đấu.
Trong hoàn cảnh ông ta đang được bọn Việt Cộng nuông chiều để sử dụng ông, ông ta đã xã thân hết lòng phục vụ cho bọn cộng sản. Tôi viết với bằng chứng rõ rảng minh bạch rằng ông ta đã làm gì, hoạt động chung với ai, nhân chứng còn đó, chứ tôi không dùng cảm tính để phán đoán. Nghành tình báo của bất cứ quốc gia nào, hoạt động đều có Protocol của nó, điểm chung đó là căn cứ trên sự kiện mà đưa ra kết luận. Chúng tôi không ấm ớ đoán già đoán non như một số dư luận thường tình thường thấy ở kẻ chợ

Phần Bà Tôn Nữ Ngự Bình đề cập đến Ông Đôn Hậu sau năm 1975 đã chống đối cộng sản một cách quyết liệt, và từ đó kết luận rằng ông ta không là cộng sản, và sự ra đi của ông ta trong Mậu Thân 1968 là bị bắt buộc. Điều này chẳng khác nào bà nói chuyện trứng đẻ ra vịt. Và nói như thế, các ông bà như Dương Thu Hương, Bùi Tín, Trần Độ, Nguyễn Hộ, Nguyễn Trân, Hoàng Minh Chính và tép riêu cỡ như Tiêu Dao Bảo Cự, Trần Vàng Sao đều không là cộng sản? vì sau 1975, họ đều chống lại cộng sản đấy thôi?
Việc ông Đôn Hậu tỉnh ngộ không có nghĩa và không thể chứng minh rằng ông trước đây không là cộng sản, trước đây ông ta không trực tiếp làm hại nền cộng hòa của Miền Nam
Có lẽ, tôi không cần phải trả lời thêm những lý luận kiểu như bà Tôn Nữ, vì người đọc sẽ bực mình, vì thiếu tôn trọng kiến thức tổng quát của họ
Mộng của ông Đôn Hậu, phải chăng là mộng sau khi thôn tính miền Nam xong, bọn chúng để cho ông làm Đệ Nhất Tăng Thống toàn cõi từ nam ra bắc, và để cho ông lập Giáo Hội theo cách riêng của ông. Nhưng ông đã lầm, mọi sự đều phải có sự chỉ đạo của Đàng, người của Đảng phải lãnh đạo giáo hội. Đó là chân lý cộng sản. Và Phật Giáo quốc doanh do chúng thành lập mới là Giáo Hội Phật Giáo chủ đạo. Vì vậy, bọn cộng sản đã đàn áp PGVNTN thẳng tay.
Nói theo danh từ nhà Phật, “Ôn đã ngộ” và quay đầu lại chống bọn chúng. Nhưng đã muộn, ông có thể nhận được sự tha thứ của một số người rộng lòng kính yêu quý thầy, cho dù quý thầy có làm cộng sản, nhưng ông khó mà nhận được sự tha thứ của lịch sử, bởi vì cộng sản đã đem đến thảm họa cho đất nước, và ông đã góp tay trong đó. Ông không thể dùng chuyện chính quyền VNCH, cái mà ông gọi là Mỹ- Diệm -Thiệu, đàn áp Phật Giáo để rước cộng sản vào Miền Nam, để mơ rằng, chúng sẽ cho ông và Giáo Hội riêng của ông có nhiều quyền hành hơn. Là một Phật Tử, tôi biết rằng Phật không bao giờ đòi hỏi quyền hành giáo hội thế tục. Ông tự lập nhóm để đòi quyền chống lại chính phủ VNCH và đã bị gậy ông đập lưng ông
Những hành động hợp tác với Cộng Sản của Ông Đôn Hậu trước năm 1975 đều đóng góp vào việc làm tan tành nền Cộng Hòa đưa đến thảm họa cộng sản cho đất nước, dân tộc và nguy cơ mất nước sau ngày 30/4/1975.
Ông Đôn Hậu ngộ, quay lại chỉ trích cộng sản, quả thật là như vậy. Nhưng mọi chuyện đã muộn! ông phải chịu trách nhiệm những gì mình đã làm. Giá như ông biết cộng sản là tội ác, là thảm họa cho nhân loại từ cuối thập niên 1950 như hầu hết những người dân bình thường Miền Nam đều biết, thì đỡ khổ cho đất nước biết bao! Chiếc áo tu hành của ông đã làm cho bao nhiêu tín đồ nghe ông mà đi theo cộng sản? bao nhiêu người nghe theo ông và Trí Quang phá hoại chính quyền VNCH? Bao nhiêu người, chúng tôi không có con số, nhưng chắc chắn là không ít
Lãnh thổ mất, Hải Đảo mất, biển mất, nhân quyền mất và cuối cùng là đất nước sẽ bị mất vào tay Tàu Cộng. Lỗi tại ai, chúng ta đã biết, nhưng trong số những người lãnh đạo tôn giáo thấy được lỗi lầm của những kẻ mượn chiếc áo cà sa để hoạt động cộng sản, làm điêu đứng tiền đồ dân tộc như Hoà Thượng Thích Tâm Châu, chẳng hạn, chắc chắn trong đó không có ông Đôn Hậu trong đó. Việc ông Đôn Hậu làm là chối tội, nói là bị cộng sản bắt!
Trước khi chấm dứt bức thư chính thức xác quyết trường hợp của Ông Đôn Hậu với nhị vị, xin có vài câu hỏi đến ĐLHòa Thượng Quãng Độ và ông Võ Văn Ái như sau:
1- Bằng những dự kiện tôi, và có kèm nhân chứng sống tôi vừa trình bày trên, theo nhị vị, Ông Đôn Hậu có hoạt động cho Cộng Sản hay không?
2- Sự ra đi của Ông Đôn Hậu trong Mậu Thân 1968 là tự nguyện hay bị VC bắt đi?
Nếu Hòa Thượng và GS Võ Văn Ái cho rằng Ông Đôn Hậu không họat động cho Cộng Sản, và sự ra đi của Ông ta trong Mậu Thân 1968 là bị Việt Cộng bắt đi, thì cá nhân tôi rất mong được ĐLHòa Tyhượng và giáo sư đưa ra những bằng chứng cụ thể bằng sự kiện rõ ràng, chứ không bằng lời chối tội suông một chiều của ông Đôn Hậu
3- Trong suốt 26 ngày Việt Cộng chiến Huế và thi hành “Bạo Lực Cách Mạng” hay “Bạo Lực Đỏ” tàn sát dồng bào Huế, Hòa Thượng và ông Võ Văn Ái có mặt tại Huế hay không?
Với nhân chứng nào? Bằng chứng nào? Nguồn tin nào để có thể kết luận ông Đôn Hậu ra đi là bi bắt buộc? hay cũng như mọi người là “chỉ nghe nói”.

Cho dù câu trả lời, có mặt hay không có mặt, hai vị có biết rằng khi tấn công và chiếm Huế Cộng sản đã sử dụng 10,000 ngàn quân phục vụ dưới ngọn cờ duy nhất được treo tại kỳ đài Ngọ Môn trong suốt 26 ngày tàn sát sinh linh vô tội là cờ của Lực Lương Liên Minh, Dân Tộc, Dân Chủ, Hòa Bình, tức là cờ của ông Đôn Hậu, ông Lê Văn Hảo?
Và nữa, đại đa số những tay sát nhân tàn bạo giết hại đồng bào Huế như Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Đóa, Nguyễn thị Đoan Trinh, và nhiều , nhiều…nhiều nữa, tất cả bọn họ đều nằm trong lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình của Ông Lê văn Hảo và Ông Đôn Hậu!
Nhóm tội ác này đã giết quá nhiều dân Huế, vậy theo lẽ công bình, Chủ Soái và Phó Chủ Soái của đám sát nhân nầy, hai ông Lê văn Hảo và Đôn Hậu, về cả ba phương diện, pháp lý, đạo đức, và lương tâm, hai người nầy có chịu một phần trách nhiện về cái chết của 5327 thường dân vô tội bị thảm sát, và 1200 ngừoi bị mất tích hay không? Hay chỉ đơn giản đổ thừa hết cho cộng sản? Cho sự thiếu sót trách nhiệm của chính quyền VNCH?
Nếu như Đại Lão Hòa Thượng và Giáo Sư trả lời “Không”.
Tôi nghĩ, tôi và công luận chẳng còn gì để hỏi Hòa Thượng và Giáo sư nữa
Còn nếu Hòa Thượng và Giáo sư trả lời là: Có.
Vậy thì Hòa Thượng và giáo sư nghĩ rằng, nên làm gì để trả lại Công Bằng và Công lý cho nạn nhân vô tội đã bị người của Ông Lê văn Hảo và Thích Đôn Hậu trong lực lượng Liên Minh Dân Chũ Dân Tộc Hòa Bình sát hại?

Kết Luận:
Tóm lại, với tư cách là một nhân viên công quyền thực thi việc điều tra các tội phạm trong đó có việc điều tra các tội phạm hoạt động cộng sản, tôi khẳng định rằng, ông Đôn Hậu đã hoạt động cộng sản, do đó, việc ra đi của ông là tự ý thoát ly.
Thứ nhất, cũng là bằng chứng quan trọng nhất, qua theo dõi Hoàng Kim Loan, chúng tôi đã cài người vào chùa Linh Mụ và biết chính xác ông Thích Đôn Hậu cùng hoạt động chung với tên sĩ quan tình bào nguy hiểm này, và lần ra các đầu mối của 2 đương sự. Lời khai của Trung Tá VC Hoàng Kim Loan
Các nhân chứng của việc điều tra này hiện đang sống tại Hoa Kỳ.
Thứ hai, không lâu sau ngày 30/4/ năm 1975, ông Thích Đôn Hậu đã tự nhìn nhận là có hoạt động cộng sản, bài viết “Ba Lần Được Gặp Bác Hồ” đăng trong “tác phẩm” Bác Hồ Trong Lòng Dân Huế là một chứng minh, việc ông tham gia trong chính phủ MTGPMN, việc ông ở trong tổ chức Mặt Trận Tổ Quốc, một tổ chức ngoại vi của đảng Cộng Sản Việt Nam, việc ông làm Đại Biểu Quốc Hội cộng sản cũng là một chứng minh, việc đám tang ông được các nhân vật chóp bu của Đảng Cộng Sản đến tham dự và gởi vòng hoa viếng là một chứng minh nữa
Thứ ba, các nhân vật Miền Nam hoạt động cộng sản như Đào Thị Xuân Yến, Đỗ Trung Hiếu, và đồ tể Nguyễn Đắc Xuân, qua nhiều bài viết, đã xác nhận ông Thích Đôn Hậu là cộng sản cùng với họ

Do đó, Cảnh Sát Quốc Gia chúng tôi kết luận dựa trên những quy định của ngành điều tra, đó là dựa trên các sự kiện cụ thể, chứng cớ nội phạm và ngoại phạm, nhân chứng, rồi đối chiếu từng sự kiện, như tất cả các bộ phận cảnh sát của tất cả các nước dân chủ trên thế giới, mà VNCH là một thành viên. Bằng tất cả các bằng chứng và nhân chứng như vậy, lời “tâm sự” không làm cộng sản, bị cộng sản bắt của ông Đôn Hậu cũng như các đồn đãi này kia cho rằng đương sự bị bắt được xem như hoàn toàn không có giá trị.

Đó là xong phần trả lời cho ĐLHT của tôi, bây giờ, xin được bàn đến nội dung thông tư của VP II/VHĐ được đăng trên queme.net. Xin trích:

1/Gần đây tác nhân chính yếu trong chính tình Việt Nam là Hoa Kỳ vừa giải mật một số hồ sơ phơi bày diễn tiến chính sách Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng hoà thông qua sự thi hành của giới chính trị gia bản địa. Qua đó chưa thấy tài liệu nào cho biết GHPGVNTN hay hàng giáo phẩm lãnh đạo GHPGVNTN dính líu đến Cộng sản.

Có vẻ như GS Võ Văn Ái rất kính nễ tình báo Hoa Kỳ, chuyện gì thuộc về lịch sử Việt Nam cũng phải nhờ Hoa Kỳ phê chuẩn và chứng giám!
Xin giáo sư cẩn thận, vì nhiều lúc Tình báo Hoa Kỳ nói vậy mà không phải như vậy. “Có” là “Không”, mà “Không” là “Có”. Có, có, không không, Có hay không, tất cả chỉ vì quyền lợi chính trị, ngoại giao, kinh tế của nước Mỹ họ mà thôi. Tỷ như Tình báo Hoa Kỳ đã từng nói Sadam Husen “Có” vũ khí giết người hằng lọat, họ oanh tạc, dội bom, đổ quân, chiếm Irac, vậy mà đến nay vẫn chưa tìm thấy vũ khí này ở đâu cả! Vậy CIA có luôn luôn đúng không? Ai cũng hiểu rằng vì chiến lược muốn đặt bàn đạp tại Trung Đông, Hoa Kỳ cần có cái cớ như thế. Và nếu, chuyện CIA không chính thức xác nhận ông Trí Quang không làm cộng sản cũng nằm trong chiến lược dùng phong trào Phật Giáo Tranh Đấu để lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, vì ông quá “cứng đầu” không nghe Mỹ, giữ vững thể diện quốc gia và khí tiết của một vị nguyên thủ, và điều quan trọng nhất là ông không chấp nhận việc đổ quân Mỹ vào Miền Nam, tạo cớ cho cộng sản xâm lược. Hậu quả nhãn tiền ai cũng đã thấy.
Các cơ quan tình báo VNCH, và nhất là BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế có bằng chứng rõ ràng Thích Trí Quang là Cộng Sản, đảng viên Cộng Sản từ 1949 do Tố Hữu kết nạp tại mật Khu Lương Miêu, Dương Hòa Thừa Thiên, chẳng lẽ CIA không biết Trí Quang là Cộng Sản hay sao? Vì họ làm cố vấn cho Tình báo Việt Nam mà? Họ thừa biết, Nhưng khi cần tạo ra thần tượng Trí Quang để phát động phong trào quần chúng đấu tranh nỗi dậy lật đỗ đệ I Cộng Hòa, để thay đổi chiến lược chống cộng, thì họ phải nói “không”, có nghĩa là họ phải nói Trí Quang không phải Công sản. Nếu họ xác nhận Trí Quang là Cộng Sản, thì làm sao gọi là đồng minh thân thiết với VNCH? Và chẳng lẽ, họ tự vả vào mặt họ?
Nhưng sau khi giết được Tổng Thống Ngô Đình Diệm qua phong trào Phật Giáo Tranh Đấu, qua bàn tay của Dương Văn Minh, một người cấu kết chặt chẽ với Trí Quang, và được Trí Quang đồng ý đưa lên ngôi vị Thủ Tướng ngay sau đó, thì Trí Quang càng ngày càng kiêu binh, phá sập hết thảy 6 “triều đại” chính phủ sau đó trong 3 năm, từ cuối 1963 đến đầu năm 1966. Tất cả đều bằng chiêu bài Phật Giáo Tranh Đấu, chống lại các chính phủ iệm mà không Diệm” bách hại Phật Giáo.
Hẳn ĐLHT và ông Võ Văn Ái không thể phủ nhận việc Henry Cabot Lodge nói rằng, Trí Quang đã đến gặp ông ta, nói rằng “hãy phế bỏ tướng Nguyễn Cao Kỳ xuống, rồi Trí Quang sẽ tự tay đưa ông Kỳ lên”? Việc Trí Quang làm “quốc phụ”hoành hành từ cuối 1963 đến đầu năm 1966 đã làm đất nước điên đảo, đứng trên bờ vực thẳm bị cộng sản lăm le thôn tính, thì buộc lòng Mỹ phải phế bỏ con cờ Trí Quang, Bỏ con cờ thì bỏ, nhưng CIA có cho vàng không dám nói Trí Quang là cộng sản. Tại sao ư? trẻ con cũng biết. Trí Quang vâng lệnh Hà Nội, phá nát Miền Nam, đi ngược lại nhu cầu và quyền lợi của Hoa Kỳ tại Việt Nam, thì chúng ta thấy ngay, Hoa Kỳ đã giúp phương tiện tối đa cho Chính Phủ VHCH dẹp lọan Trí Quang, tức là dẹp vụ Bàn Thờ Phật Xuống Đường tại Huế và các tỉnh Miền Trung
Gần đây nhất khi thấy trí Quang không còn một tí giá trị nào để lợi dụng nữa thì CIA lại chơi đòn độc, CIA giải mật hồ sơ cuộc chiến Việt Nam vào tháng 2 năm 2009. CIA đã ghi rõ trong hồ sơ giải mật rằng:
CIA tại Sài gòn đã đưa cho Thích Trí Quang 2 triệu đồng để làm công tác huấn luyện vào năm 1964.
Ai có thể phủ nhận cái bằng chứng rành rành Trí Quang hoạt động cho CIA này không?
Khi tôi nói Thích Trí Quang là Cộng Sản thì nhiều người đã phản đối cho rằng không đúng, vì, là cộng sản, tại sao ông ta bị cộng sản giam lỏng, cô lập, sau 1975.
Sau tài liệu giải mật trên của CIA, thì câu trả lời là:
Thích Trí Quang vừa làm cho Việt Cộng, và vừa làm cho CIA, Hà Nội dư sức để biết điều đó, nên biện pháp giam lỏng ông ta sau 1975 là chuyện bình thường.
Sau đây là nhận xét của Trần Bạch Đằng, cán bộ tuyên huấn, về Trí Quang như sau:
“ Trí Quang là loại CIA chiến luợc, anh Út Nguyễn Văn Linh giận Trí Quang lắm”
Anh Út giận là phải: “Trai ngay không thờ hai chúa!”.
Trí Quang đã 2 mang, thờ cộng sản rồi lại thờ cả CIA. Rất đơn giản, số phận Trí Quang cũng không khác điệp viên 2 mang Phạm Xuân Ẩn, có gì mà phải suy nghĩ !
Chắc hẵn ĐLHT cũng như giáo sư Ái cũng phải nhận rằng:
Không thể lấy chuyện ông Trí Quang bị cộng sản giam lỏng, cô lập, sau năm 1975 để kết luận Ông Trí Quang không phải là Cộng Sản. Mà chúng ta phải khen cộng sản một phát là giỏi, vì đã phát giác ra là Trí Quang làm việc và nhận tiền của CIA từ lâu, nên bọn chúng giam lỏng ngayThích Trí Quang ngay sau năm 1975.
Nguyễn Trực, tay chân thân tín, bộ hạ của ông Trí Quang, đã chính thức thức đại diện Ủy Ban Quân Quản của Tướng VC Trần văn Trà, tiếp thu trường Đại Học Vạn Hạnh, làm chổ tiếp nhận Quân Cán Chính VNCH đăng ký học tập cãi tạo.
Trí Quang không làm cộng sản mà sao toàn bộ những người thân cận quanh thầy đều là cộng sản? Sự việc làm sao giải thích?
Ngay cả bây giờ hồi ký ông Trí Quang viết, chính ông ta đã tự khai rằng năm 22 tuổi ông ra Hà Nội gặp Bác Hồ, nhận nhiệm vụ vào Nam “diệt loài quạ lang” đã ra đời rất lâu, nhan nhản trong một số website như sachhiem.net, giao điểm, mà vẫn có người tự tranh biện không công dùm ông ta rằng “Trí Quang không là cộng sản!”

Và ông Trí Quang có phải là hàng ngủ lãnh đạo Phật Giáo hay không? Kính thưa ĐLHT và ông Võ Văn Ái!

Một sự kiện nữa mà không biết CIA có ghi nhận dùm cho ông Võ Văn Ái hay không, đó là, ngày 28 tháng 3 năm 1975, Chư Tăng tại chùa Tĩnh Hội Đà Nẵng đã ra tận đèo Hải Vân nghênh đón quân đội Giải Phóng Miền Nam vào thành phố Đà Nẵng. Tăng, Ni, ngồi trên xe tăng T54 của cộng sản mặt mày hãnh diện, hớn hở. CIA có thể nói “không”, nhưng Tăng Ni Phật Giáo khó mà dấu được lịch sử và đồng bào Đà Nẵng chuyện này. Họ có phải là lãnh đạo Phật Giáo cỡ nhỏ, cỡ vừa không?
CIA có thể chối dùm ông Ái là các lãnh đạo Phật Giáo không làm cộng sản, nhưng chư tăng không chối được với người dân Việt Nam
Thêm một sự kiện nữa, Ngày 30 tháng Tư tại Sài Gòn, một nhóm trên 500 tăng ni trong khối Phật Giáo Ấn Quang đã ra hân hoan nghênh đón Ủy Ban Quân Quản và Bộ Đội Cụ Hồ tức là Quân Đội Giải Phóng Miền Nam vào Sài Gòn.
Ngày 19 tháng 5 năm 1975 tại Chùa Ấn Quang Sàigòn, Chư Tăng đã hớn hở làm lễ mừng sinh nhật Bác! .
Thượng Tọa Thích Tâm Châu cũng xác nhận những điều này trong tâm thư của ông.
Sau đây, cũng trong mục ông Ái nói rằng không thấy tài liệu của CIA nói hàng ngủ lãnh đạo PGVNTN theo cộng sản, xin được phép tặng ông Võ Văn Ái bài thơ về Hồ Chủ Tịch của sư bà Thích Nữ Diệu Không, trù trì chùa Hồng Ân, Huế:

Hồ Chủ Tịch
“Giải phóng quê hương khỏi đọa đày
Chí người như núi vững không lay
Tình người như nước lan tràn cả
Kỷ niệm người như một bậc thầy”

Không biết CIA có biết bài thơ này và tác giả của nó không, Sư Bà có phải là lãnh đạo Phật Giáo không? hay là người thường, thưa ông Võ Văn Ái?

Và đây là nguyên văn lời ông Đôn Hậu được ghi nhận trong thông tư:

2/ “Tình đoàn kết đó, thương yêu đó, kính trọng đó (đối với người kháng chiến, cách mạng) chỉ được 10 ngày ! Sau 10 ngày đó : tình đoàn kết xưa nay bây giờ rã hết ! Lòng thương yêu đổi thành ghét cay ghét đắng ! Sự kính trọng bây giờ người dân trở lại khinh đáo để ! (…) Phật giáo chúng tôi sống qua bao nhiêu chế độ, bị đàn áp một cách tàn bạo. Người Phật tử luôn luôn trông mong một chế độ nào cởi mở hơn, biết điều hơn, để đem lại cho họ một phần cuộc sống đã bị mất. Nhưng từ khi giải phóng đến nay, Phật giáo chúng tôi chẳng những không được trả lại một phần cuộc sống bị mất, mà lại còn bị mất thêm 30 lần nữa”.

Qua lời phát biểu của ông Đôn Hậu, tôi xin hỏi công luận:
1/ Như vậy, có phải chính là ông Đôn Hậu đã xác nhận đã từng: Đoàn kết, thương yêu, kính trọng bọn cộng sản?

2/Ông Đôn Hậu nói rằng: Phật Giáo đã bị các chính quyền Đàn Áp Tàn Bạo: Ông ám chỉ đó là các chính quyền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa
Xin hỏi ông Đôn Hậu, chính quyền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa có tàn bạo như cộng sản không? Ông là người tu hành, mong ông không vọng ngữ!
Thế nào là tàn bạo? Hay là vì ông là một chức cao sắc trọng trong tôn giáo, nên ông có quyền phát ngôn bừa bãi?
Bản thân là một Phật Tử, trưởng thành trong một đại gia đình có nhiều Đại Lão Hòa Thượng, trong đó có ngài Đệ Nhật Tăng Thống Thích Tịnh Khiết, tôi thật sự không biết bản thân ông Đôn Hậu đã bị chính quyền VNCH đàn áp tàn bạo cụ thể như thế nào? Phật tử bị đàn áp tàn bạo cụ thể ra sao? Hay là làm cộng sản rồi bị chính quyền bắt thì la lên là bị đàn áp bách hại? Hay chỉ là vì các vị lãnh tụ Phật Giáo không vừa ý với cái Đạo Dụ số 10, nên chuyện bé xé cho to? Bởi vỉ, sau tất cả các cuộc biểu tình ném đám, đốt xe cảnh sát, tự thiêu hàng loạt, Liên Hiệp Quốc không thể tìm thấy bằng cớ là chính quyền VNCH đàn áp Phật Giáo. Điều ghi nhận này của Liên Hiệp Quốc, ĐLHT và GS Võ Văn Ái có thể phủ nhận?
Hay là vụ nỗ lựu đạn tại Đài Phát Thanh Huế làm thiệt mạng 8 người là chứng minh cho việc đàn áp tàn bạo của chính quyền Mỹ Diệm? Khi mà mãi cho đến ngày hôm nay, hoàn toàn không có bằng cớ cụ thể để buộc tội chính quyền tổng thống Ngô Đình Diệm, mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực của các chính quyền sau tổng thống Ngô Đình Diệm, vì cố tạo chính nghĩa cho việc thảm sát tổng thống để cướp chính quyền, đã tìm mọi cách đổ tất cả các tội lỗi lên đầu Tổng Thống, họ vẫn không tài nào tìm được bằng chứng để chứng minh chuyện này! Bằng chứng là việc sau nhiều nỗ lực để kết án tử hình Thiếu Tá Đặng Sĩ, người bị gán cho là mật vụ Mỹ Diệm tổ chức ném lựu đạn vào đám đông Phật Tử đang biểu tình, người ta phải giảm án xuống còn chung thân, sau một thời gian phải tha bỗng. Đây là một trong những vụ án oan khiên, y hệt vụ án của Nguyễn Trãi, Nguyễn thị Lộ, mà ông Trí Quang là “chánh án” đàng sau. Ông Trí Quang giết được một số người khác, trong đó có bào đệ của tổng thống, ông Ngô Đình Cẩn và ông Phan Quang Đông, đặc trách tình báo bên kia vĩ tuyến 17, hoàn toàn không dính dáng đến việc đàn áp quý thầy, quý tăng ni Phật Từ cả!
Trong khi đó, có nhiều chứng cứ rất khả tín mà Ty CSQG/TT/Huế đặt nghi vấn rằng, không ai khác, chính ông Trí Quang đã chủ mưu dàn dựng vụ nỗ lựu đạn tại đài phát thanh Huế, qua sự chỉ đạo dàn dựng của Hà Nội

Tóm lại, chẳng lẽ tình báo Hoa Kỳ nhận rằng một số sư nằm trong hàng ngủ Lãnh Đạo Phật Giáo như Trí Quang chẳng hạn, làm cộng sản, thì còn cớ gì để chính quyền Mỹ tham gia hổ trợ phong trào Phật Tử tranh đấu để lật đổ tông thống Ngô Đình Diệm? Chẳng lẽ CIA nhận mình hổ trợ cho cộng sản? Làm sao mà CIA dám nhận chuyện một số vị lãnh đạo Phật Giáo Việt Nam đã làm cộng sản? CIA đã ủng hộ số này, chẳng lẻ, CIA tự vả vào mặt họ?
Cho nên, vấn đề mà ĐLHT và ông Ái đưa ra, tôi e rằng không nên đặt vấn đề, bởi vì, nguyên nhân của nó quá rõ ràng đơn giản, có cần phải nói một điều như 2 cộng 2 là 4 như thế?

3/Nhưng ít nhất tôi cũng tôn trọng ông Đôn Hậu ở một điểm mà ông nói đúng, đó là: Nhưng từ khi giải phóng đến nay, Phật giáo chúng tôi chẳng những không được trả lại một phần cuộc sống bị mất, mà lại còn bị mất thêm 30 lần nữa”.
Xin miễn lời bình về sự so sánh này của ông
Xin trích thêm một đoạn nữa trong thông tư:

Không thể nào vu cáo hàng giáo phẩm GHPGVNTN “rước Cộng sản vào Tết Mậu Thân Huế” hay “dâng miền Nam cho Cộng sản”, khi ai cũng biết rằng hàng tỉ đô la Hoa Kỳ đổ ra nuôi một bộ máy quốc gia chống Cộng, nuôi hàng triệu binh sĩ, cảnh sát, mật vụ chống Cộng, với sự tiếp tay của nửa triệu binh sĩ Hoa Kỳ. Những tác nhân chính này đã làm gì để bảo vệ Miền Nam ? Trong khi ấy chư Tăng, Ni, Phật tử tay không khí giới, túi không tiền bạc thì làm sao có thể “dâng miền Nam cho Cộng sản” ?

Xin được mạn phép hỏi ĐLHT và ông Võ Văn Ái: các ông Trí Quang, Như Ý, Thiện Siêu, Chánh Trực có làm cộng sản không làm cộng sản?
Các ông ấy có rước cộng sản vào không? Ông Thích Như Ý có dùng chùa Trà Am làm nơi hội họp cho đám cơ sở nội thành VC để từ đó tung ra các cuộc tấn công vào dân lành vô tội bằng cách đặt chất nổ tại các rạp chiếu bóng, tại Ty Bưu Điện, tại Ty Ngân Khố hay không? v.v…
6 ký chất nỗ hợp chất C3 và 8 ngòi nỗ, thử hỏi nếu chúng tôi không bắt ông Như Ý và đồng bọn, ngăn chận kịp thời âm mưu giết người tàn bạo này, thử hỏi, sẽ có bao nhiêu dân lành sẽ bị sát hại, và rồi sau đó ông Như Ý chỉ việc tụng kinh sám hối cầu siêu cho họ? Rồi lại đặt chất nỗ tiếp?
ĐLHT và ông Võ Văn Ái cho là họ không khí giới, không tiền nên không thể dâng Miền Nam cho cộng sản? Thưa ĐLHT, thưa ông
Võ Văn Ái, tiền đó là tiền kinh tài của cộng sản qua nhiều ngã. Tại Huế, cơ sở kinh tài lớn nhất của Việt Cộng lại do Lê Hữu Tý, Nguyễn Xin, Nguyễn Hải, một trong khuôn hội trưởng đảm trách, cơ sở kinh tài này đã bị BCH/CSQG/Thừa Thiên phá vỡ, bắt giữ toàn bộ bọn chúng và đã gây chấn động tại Huế bởi nhiều cuộc lên đường, xuống đường cho rằng tôi đàn áp Phật giáo. Giáo sư Đại Học Huế Lê Đình Cai là người đã tức giận tổ chức biểu tình chống lại chuyện thả các tên kinh tài Việt Cộng này, cả xứ Huế điều biết. Giáo sư Lê Đình Cai hiện đang giảng dạy tại Đại Học San Jose, Đại Lão Hòa Thượng và ông Võ Văn Ái có muốn đối chứng? Nhắc lại chuyện này, cá nhân tôi đến nay vẫn còn uất ức, vì tâm huyết tâm lực của trên 5000 CSQG bỏ công sức, bỏ tính mạng, cài người ra theo dõi bọn Việt Cộng ngày đêm, khi bắt được thì dưới áp lực của những kẻ mệnh danh tôn giáo mà đành phải thả.
Ít nhất đã có một số chùa tại Huế chôn dấu vũ khí, chứa chấp đặc công Cộng sản, như chùa ông Thầy Ngoạn tại An Lăng nơi mà tôi và lực lượng Cảnh Sát Thừa Thiên-Huế đã phục kích và bắn chết tên Thiếu tá Cộng Sản Thanh Bình ngay tại sân chùa của Thầy Ngoạn, và chúng tôi cũng đã khui một hầm bí mật tại ngôi chùa ở đường Duy Tân thuộc Quận 3 Thị xã Huế, lôi từ hầm bí mật nằm dưới chuồng heo của chùa lên 3 tên Việt Cộng, một nữ, hai nam, tịch thu một số vũ khí và chất nỗ. Hai vụ nầy tôi đã viết rất rõ trong cuốn BĐMT, và chuyện chùa Trà Am chứa chấp Việt Cộng và chất nỗ tôi đã nói trên
Như vậy, có lẽ tôi đã trả lời cho câu phát biểu của ông Võ Văn Ái rằng các chư Tăng, Ni, Phật tử tay không khí giới, túi không tiền bạc thì làm sao có thể “dâng miền Nam cho Cộng sản” ?

Nhân chuyện ĐLHT và ông Võ Văn Ái đề cập đến chuyện tiền bạc Mỹ, tôi cũng xin mạn phép có mấy lời như sau xin được thưa cùng Hòa Thượng Thích Quảng Độ và ông Võ Văn Ái:
Đoạn thứ nhất, xin được lập lại:
“khi ai cũng biết rằng hàng tỉ đô la Hoa Kỳ đổ ra nuôi một bộ máy quốc gia chống Cộng, nuôi hàng triệu binh sĩ, cảnh sát, mật vụ chống Cộng, với sự tiếp tay của nửa triệu binh sĩ Hoa Kỳ. Những tác nhân chính này đã làm gì để bảo vệ Miền Nam ?”
Trước tiên, tôi có nhận xét về lời phát biểu trên như sau:
Đó là một phát biểu rất thiếu sót, khá nông cạn, bởi vì, trong ngân khoản viện trợ, quốc gia chi viện và quốc gia nhận viện trợ đều có các kế hoạch và ngân khoản nhằm phát triễn toàn bộ quốc gia, không thể chỉ dùng vào việc nuôi quân. Chi phí đó bao gồm: Giáo dục, kinh tế, nhân đạo, chi phí cho hạ tầng cơ sơ, thượng tầng kiến trúc và quốc phòng vv và vv, trong đó quân đội nhận một phần nhỏ trong khoản viện trợ đó làm nhiệm vụ trọng yếu bảo vệ lãnh thổ
Thế thì, lời phát biểu trên rằng quân đội VNCH chịu trách nhiệm tiêu thụ số hàng tỉ dollars đó! Như vậy có chính xác hay không? Hay chỉ nhằm mục đích thóa mạ QLVNCH ?

Kính thưa ĐLHT và ông Võ Văn Ái tôn kính, chúng tôi đã làm gì để bảo vệ Miền Nam ư?
Quân, Cán, Chính miền nam đã sát cánh, còng lưng, kề vai chống đỡ trong cuộc chiến tự vệ, cuộc chiến xâm lăng miền Nam do đảng Cộng Sản Việt Nam mưu đồ khởi xướng.
ĐL Hòa Thượng và giáo sư Ái không thể phủ nhận điều mà ông Đôn Hậu đã làm khi ra Bắc, là theo lệnh đảng Cộng sản, ông Đôn Hậu cùng phái đòan của ông ta xuất ngoại đi truyên truyền cho cuộc chiến xâm lăng của đảng Cộng Sản Việt Nam tại miền Nam Việt Nam.
Và thưa ĐLHT và ông Võ Văn Ái, trong cuộc chiến tự vệ nầy, đã có trên 500,000 quân, cán, chính miền Nam đã bỏ mình để bảo vệ đất nước! Nói như cách nói của ĐLHT và ông Võ Văn Ái, thì quân đội VNCH đi lính để có được miếng ăn cung cấp bởi Hoa Kỳ, để được Hoa Kỳ nuôi? Và bán sinh mạng mình đổi lấy tiền Mỹ?

Gương tuẫn tiết của các tướng Nguyễn Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Trần văn Hai, Phạm Văn Phú, và nhiều sĩ quan, hạ sĩ quan anh em binh trong QLVNCH cũng như trong LLCSQG/VNCH điển hình là sĩ Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long vv. Thượng Sĩ Cảnh Sát Nguyễn Văn Bích, em rễ của ĐLHT Thích Mật Nguyện. Trung sĩ Nguyễn văn Bích một thuộc cấp của tôi, đã tự bắn vào đầu để lại vợ con ngay khi cộng sản tiến vào Huế tháng 3/1975. Anh cũng là chú Tiểu Bích, hầu hạ ngài Mật Nguyện. Sau khi ông Đôn Hậu thoát ly, Hòa Thượng Mật Nguyên lên làm chánh đại diện Miền Vạn Hạnh, chú tiểu Bích, sau đó phải lòng cô em gái của Hòa Thượng Mật Nguyện, anh kết hôn và trở lại đời thường, vô cùng căm thù cộng sản. Thượng sĩ Bích đã cộng tác đắc lực và đóng góp rất nhiều trong công tác truy tìm cộng sản trong hệ thống các chùa. Khi viết những dòng này, tôi không ngăn được dòng lệ thương tiếc Thượng sĩ Nguyễn văn Bích, người thuộc rất cận kề với tôi, đã đem mạng sống mình cống hiến cho quốc gia và lý tưởng tự do. Câu chuyện này, dân Huế quanh vùng ai cũng biết, nhưng có lẽ ông Võ Văn Ái và ĐLHT Quãng Độ không biết? cho nên đã tặng cho quân lực VNCH những chữ “Hoa Kỳ Nuôi!”? Chúng tôi đi lính cho thuê cho Hoa Kỳ? hay vì không có nghề gì làm ăn sinh sống, nên chọn cái nghề đi lính, đi làm mật vụ để để nuôi thân? Bán máu cho Mỹ?
ĐLHT và ông Võ Văn Ái đã dùng chữ NUÔI để hạ nhục quân đội VNCH!
Quốc gia nào cũng phải có quân đội, cũng phải trả lương, cũng phải chăm sóc cũng cố quân đội, nhưng không ai dám nói là nuôi quân đội cả, quân đội luôn luôn có chỗ đứng trang trọng trong lòng lịch sử
Ngay cả với cộng sản, khi cán binh bộ đội tử trận, họ cũng biết viết:
Tổ Quốc Ghi Công
Với chính quyền VNCH, sự hy sinh của người lính được kính trọng như sau:
Tổ Quốc Ghi Ơn
Với ĐLHT và ông VõVăn Ái, QLVNCH chúng tôi bị xem là binh lính thuê của Mỹ

Thưa ĐLHT, trước đây, tôi chỉ nghe bọn cộng sản và bọn nằm vùng nói rằng chúng tôi, quân đội VNCH, là lính đánh thuê cho Mỹ. Đây là lần đầu tiên, tôi nghe ĐLHT và ông Võ Văn Ái, 2 người Miền Nam không cộng sản, nói rằng Hoa Kỳ nuôi binh lính chúng tôi, nói một cách khác, đó là lính đánh thuê?
Thật tình mà nói, nếu quê hương không có tiếng súng, đa số anh em chúng tôi được yên ổn cắp sách đến trường, được học hành tử tế đổ đạt, thì chắc 100% là chẳng cần Mỹ nuôi đâu, thưa ĐLHT và ông Võ Văn Ái!
Mà nếu QLVNCH có bị Mỹ nuôi như ĐLHT và ông Võ Văn Ái biếm nhẽ khinh miệt, thì ít nhất, ĐLHT và ông Ái cũng phải nhận rằng: đã có những kẽ bán máu nuôi miệng như quân đội VNCH, để những người như ĐLHT có thể yên ổn tụng kinh niệm Phật, và ông Võ Văn Ái được ra nước ngoài trốn lính, và kết hợp chặt chẽ với ông Nhất Hạnh, truyền truyền phản chiến, chống lại cuộc chiến tự vệ của dân chúng miền Nam, làm lợi cho cộng sản, chế dầu vào lửa cùng với bọn phản chiến phương tây và bọn phản chiến Mỹ, đưa đến bọn phản chiến được bầu vào quốc hội Hoa Kỳ. Dĩ nhiên, chỉ chờ có thế, chúng cắt ngay viện trợ cho Miền Nam. Hậu quả: cộng sản đi bộ vào Miền Nam chính thức ngày 30/4/1975.
Hành động của giáo sư như vậy, giờ này đất toàn bộ nước rơi vào tay cộng sản, chuẩn bị rơi vào tay Trung Cộng, GS có tội với quốc gia dân tộc hay không?

Và cũng nhân chuyện ĐLHT và GS đề cập đến những Đồng Tiền Mỹ, hạ nhục chúng tôi, nói rằng QLVNCH là binh lính Mỹ nuôi, tôi xin hỏi GS Ái:

Theo một số tin tức được phổ biến trên Internet, báo cáo của NED giáo sư đã nhận tiền tài trợ của cơ quan Tình báo CIA, để lo cho “Phật Sự” của GHPGVN , tài liệu này trước mắt tôi, có ghi rõ:
Từ năm 2000-2003 mỗi năm giáo sư nhận 70,000 USD
Năm 2004 bị gián đoạn.
Năm 2005 giáo sư nhận 70,000 USD
Năm 2006 giáo sư nhận 97,000 USD
Năm 2007 giáo sư nhận 107,000USD
Năm 2008 giáo sư nhận 107,000USD
Năm 2009 chưa thấy công bố.
Vậy, xin hỏi giáo sư Võ văn Ái, chuyện nầy có thật hay không, hay chỉ là vu khống, bôi nhọ thanh danh của Giáo Sư ?
Chẳng lẽ Giáo Sư, người có bằng cấp học vị lại để Mỹ nuôi? Lẽ nào lại vậy?
Không biết chuyện này ĐLHT có biết không?
Và còn một chuyện tôi khá thắc mắc, có tính cách đời tư lý lịch cá nhân, nhưng cũng cần được rõ, vì GS nắm một chức vụ quan trọng trong GHPGVNTN, thì học vị cần phải được minh bạch, đó là, ngày GS ra khỏi Việt Nam, GS chỉ là một chú Điệu, tức là chú Tiểu, tại Đà Lạt. Sang Pháp qua sự trợ giúp của tướng Nguyễn Ngọc Lễ, chẳng hay GS có tiếp tục học tại Pháp? Rồi tốt nghiệp trường ĐH nào tại Pháp? Sau đó GS dạy trường Đại Học nào, dạy lãnh vực nào, dạy chuyện gì? Vì có người hỏi tôi GS dạy cái gì, dạy trường nào, tốt nghiệp trường nào, tôi không biết! Xin GS vui lòng phúc đáp

Tóm lại, cuối thư, biết rằng Giáo Sư vì bận nhiều công vụ đa đoan, nhưng nếu có thể được, tôi xin được trực tiếp thưa chuyện và bàn thảo với Giáo Sư trong chỗ riêng tư, hoặc công khai, bất cứ nơi đâu, vào ngày giờ nào thuận tiện cho Giáo Sư, để GS có thể thưa chuyện lại với ĐLHT Quãng Độ, người mà cá nhân tôi rất kính nễ về tất cả các hành động chống cộng sản của ngài, về các vấn đề như sau:
1- Ông Đôn Hậu có họat động cho Cộng Sản hay khộng?
2- Ông Đôn Hậu bị cưỡng bách hay tình nguyện ra Bắc vào năm Mậu Thân 1968?
3- Ông Lê văn Hảo, Ông Đôn Hậu có chịu trách nhiệm với luật pháp, với đạo đức, và luơng tâm về vụ thảm sát đồng bào Huế trong Mậu Thân 1968 hay không?
Các thành viên của lực lượng LMDTDCHB này đã tàn sát quá nhiều đồng bào vô tội trong Mậu Thân 1968 tại Cố Đô Huế, hai ông Chủ Tịch và Phó chủ Tịch Liên Minh này có chịu trách nhiệm mảy may nào hay không?
4-Xin ĐLHT và ông Võ Văn Ai chứng minh rằng tôi, Liên Thành, có những viễn đồ phi dân tộc và phản tổ quốc,
Bởi vì, tôi chính là người xác quyết ông Đôn Hậu đã hoạt động cộng sản. Và căn cứ trên tinh thần của thông tư được ký bởi ĐLHT và đăng trong Website queme.net của ông Võ Văn Ái, rằng những ai nói hàng ngủ lãnh đạo Phật Giáo làm cộng sản, và đặc biệt nói ông Đôn Hậu là cộng sản, đều là những kẻ có viễn đồ phi dân tộc và phản tổ quốc.
Tôi nhớ ông Nguyễn Cao Kỳ cũng nói: “Nói lăng nhăng là phản quốc!”
Ông Võ Văn Ái cũng nói “ai nói hàng ngủ lãnh đạo Phật Giáo là cộng sản đều là những kẻ phản quốc!”
Ông Ái có bắt chước ngài cựu Phó Tổng Thống không vậy?
Chúng tôi dễ bị kết tội phản quốc quá!
Và tôi, Liên Thành, xác qưyết ông Đôn Hậu đã làm cộng sản trước tháng 4 /1975
Thế thì tôi đã có viễn đồ phi dân tộc phản tổ quốc? viễn đồ phi dân tộc là viễn đồ gì? Phải chăng ý GS muốn nói tôi mưu đồ làm mất dân tộc? Chuyện này có lẽ GS nên hỏi mấy ông cộng sản, mấy ông nằm vùng, còn tôi, cháu nội Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, e là chuyện phi dân tộc này hơi khó xảy ra. Tóm lại, chữ nghĩa ông Ái to quá, quá tôi không hiểu
Và Tỏa Án nào đây? Tòa Án của ĐLHT? Của ông Võ Văn Ái? Tòa Án Nhân Dân? kết tội tôi?
Xin nhị vị cũng chứng minh cái viễn đồ gì gì đó và tội phản quốc của tôi!
Bằng ngược lại?
Thì mặc dù cá nhân tôi luôn luôn hết lòng kính trọng ĐLHT Quảng Độ về những hành động can trường đảm lược, yêu quốc gia, chống lại bọn cộng sản, nhân cách cá nhân trong sáng của ngài, nhưng tôi cũng phải xin hỏi lại ngài rằng, nếu như ĐLHT và ông Võ Văn Ái không chứng minh được tôi có viễn đồ gì gì đó và phản tổ quốc, thì câu trả lời của công luận đến với nhị vị sẽ là gì?

Trân Trọng
Ký tên

Liên Thành
Một Phật Tử
Cháu nội Kỳ Ngoại Hầu Cường Để
Cháu ngài Đệ Nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết
Cháu ngài ĐLHT Thích Chơn Trí
Con Hoàng Thân Tráng Cử, một nhà giáo có tiếng về nhân cách và thanh bạch tại Huế
Em ĐLHT Thích Chơn Kim

Cựu Chỉ Huy Trưởng LL CSQG Thừa Thiên/Huế
Email: nguyenphuclienthanh@gmail.com
Xin liên lạc với tôi để có số phone
P/S:
Thư này đã được gởi bằng Certified Mail đến:
1/Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ tại Thanh Minh Thiền Viện:
90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP Saigon
( Kính nhờ ông Võ Văn Ái bằng phương tiện riêng chuyển đến Ngài Đại Lão Hoà Thượng)
2/Ông Võ Văn Ái: BP 60063
94472 Boissy Saint Leger cedex, France
Thư cũng đồng thời được chuyển bằng email đến ông Võ Văn Ái: queme@free.fr
Thư trả lời ĐLHT Quảng Độ này cũng được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông và Internet để rộng đường dư luận,
Xin quý vị vào trang queme.net để đọc lại thông tư của ĐLHT và ông Võ Văn Ái, post ngày 18/1/2010 để tham khảo
Xin thứ lỗi rằng tôi đã phải buộc lòng đem thân thế gia đình tôi ra “khoe”, chẳng qua để quý vị đánh giá thử xem tôi có cơ may nào có “viễn đồ phi dân tộc phản tổ quốc”không?
Ông Ái có quyền nói bất cứ điều gì ông muốn, kể cả nói bá láp. Tất nhiên, không phải cái gì ông Võ Văn Ái nói đều là chân lý cả. Hãy để công luận và lịch sử đánh giá

Liên Thành

http://www.vietland.net/main/showthread.php?s=1c53448899ab5819d264d872651a5e08&t=12737

Tên việt-gian Lê Đức Anh là bố đẻ của “thánh nữ” Lê thị Công Nhân (Kỷ Nguyên 2000 – NB Việt Thường)

le_duc_anh_le_thi_cong_nhan

Tên việt-gian Lê Đức Anh là bố đẻ của “thánh nữ” Lê thị Công Nhân (Kỷ Nguyên 2000 – NB Việt Thường)

viet gian cong san le thi cong nhan con cua suc vat le duc anh

suc vat le duc anh tay sai an cut suc vat ho chi minh

Trại Đầm Đùn (Trần Văn Thái)

Trại Đầm Đùn (Trần Văn Thái)

trai_dam_dun

Kỷ niệm 35 năm Ngày Quốc Hận 30/04/1975 – 30/04/2010: Trại Đầm Đùn (Trần Văn Thái)


Part 01/12:


Part 02/12:


Part 03/12:


Part 04/12:


Part 05/12:


Part 06/12:


Part 07/12:


Part 08/12:


Part 09/12:


Part 10/12:


Part 11/12:


Part 12/12:


http://www.vimeo.com/user2780154